phương thức trần thuật

Giới Thiệu. Bệnh viện mắt Phương Nam tập trung đội ngũ bác sĩ và chuyên gia dày dạn kinh nghiệm với chuyên môn cao. Sự kết hợp kinh nghiệm chuyên sâu, sự tận tâm với bệnh nhân và trình độ đạt chuẩn quốc tế chính là những thế mạnh nổi bật, giúp các bác sĩ và diễn ngôn trần thuật. giới thiệu về điện tử số tiếp. giới thiệu về lịch sử phát triển của công ty. xác định các mục tiêu của chương trình. điều tra đối với đối tượng giảng viên và đối tượng quản lí. nội dung cụ thể cho từng kĩ năng ở từng cấp độ Đánh giá tính hợp lệ của hồ sơ đề xuất về kỹ thuật theo phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ mua sắm gói thầu theo Hiệp định CPTPP? Đánh giá về năng lực và kinh nghiệm theo phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ mua sắm gói thầu theo Hiệp định CPTPP?Kính mong TÓM TẮT. Trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu phương thức trần thuật chủ quan trong truyện ngắn thuộc khuynh hướng yêu nước ở đô thị miền Nam giai đoạn 1965-1975. Đây là phương thức trần thuật chiếm tỉ lệ khá lớn, cơ cấu khá đa dạng và góp phần quan trọng vào Trần thuật (tiếng Anh: narration) là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định. Vai trò của trần thuật rất lớn. Trong tác phẩm tự sự, trần thuật là thành phần lời của tác giả, của người trần thuật…(1). Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ rõ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn. Khảo sát ngôn ngữ trần thuật (đặc biệt là những tính chất thường gặp của ngôn ngữ truyện ngắn hiện đại trong Vay Tiền Online Từ 18 Tuổi Bankso Vn. Từ sau 1986, sự đổi mới tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù thẩm mĩ trong văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp. Mỗi nhà văn đều lí giải cuộc sống từ một góc nhìn riêng, với những cách xử lí ngôn ngữ riêng. Hệ quả tất yếu là truyện ngắn Việt đương đại đã gặt hái được nhiều thành công trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến ngôn ngữ trần thuật. Trong tác phẩm tự sự, trần thuật là thành phần lời của tác giả, của người trần thuật…1. Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ rõ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn. Khảo sát ngôn ngữ trần thuật đặc biệt là những tính chất thường gặp của ngôn ngữ truyện ngắn hiện đại trong lời người trần thuật chúng tôi hi vọng sẽ góp phần nhận diện những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn đương đại. 1. Tính chất hiện đại trong ngôn ngữ trần thuật Thu hẹp khoảng cách giữa truyện kể và những “chuyện” của hiện thực, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn đương đại trở nên gần với ngôn ngữ đời sống hơn bao giờ hết. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn không còn là lời nói quyền uy, cao đạo. Bên cạnh khẩu ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh có thứ ngôn ngữ vỉa hè ở tác phẩm Phạm Thị Hoài. Có lời người trần thuật dân dã trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh đi năm lần bảy lượt, mời mẻ bát gẫy đũa…, Nguyễn Khải cười thắt ruột, ăn nói quá quân trộm cướp…, Bão Vũ nằm co tiểu sànhkhihết phim.... Có kiểu phát ngôn trần trụi, không gọt dũa của thứ ngôn ngữ “chợ búa” ở Người hùng trường làng Tạ Nguyên Thọ, Không có vua Nguyễn Huy Thiệp, Dạo đó thời chiến tranh Lê Minh Khuê… Trong một số tác phẩm, những tiếng lóng, những từ ngữ tục, những câu chửi thề… được người trần thuật sử dụng khá thường xuyên. Tuy thế, việc vận dụng thích hợp mảng ngôn từ ít có giá trị thẩm mĩ tự thân này, trong một chừng mực nhất định, vẫn có thể nâng cao hiệu quả trần thuật. Nếu trước đây thật khó hình dung cách nói không có trật tự trên dưới của những người tham gia giao tiếp, thì trong truyện ngắn đương đại, kiểu nói “xấc xược” của lớp trẻ không còn quá lạ tai. Để phê phán một mảng xã hội bộn bề, mọi chuẩn mực đạo đức bị đảo lộn, nhiều cây bút đã không ngại sử dụng thứ ngôn ngữ trần thuật “thiếu văn hóa”. Ở Làng xi măng Lê Minh Khuê, giả sử không có lời chú thích của người trần thuật, hẳn không nhiều độc giả “dịch” được bức điện tín Bà mõm, Thối rồi. Về ngay! bà ốm, mất rồi, về ngay. Kiểu thông báo có tính chất mệnh lệnh với ngôn từ ít trang trọng vẫn có thể là lời của con cái dành cho bậc sinh thành Bao giờ ổn định con sẽ “cẩu” mẹ ra khỏi cái “làng Vũ Đại” Gió đồng se sắt – Đỗ Tiến Thụy. Đoạn văn sau đây trong Đại hùng kê Hòa Vang là bằng chứng của một thứ ngôn ngữ giao tiếp đáng kinh hãi xuất hiện đậm đặc trong truyện ngắn hôm nay Phéng mẹ nó một nhát với cái lão “hâm đơ” viêm màng túi mãn tính cùng đời ấy cho xong phắt đi… Chị mới sắp bốn mươi cái lơ thơ tơ liễu buông mành, sợ gì?… phây phây lắm, ngọt bột canh Ajinô Môtô lắm… Có một sự đối nghịch rõ rệt nếu soi xét bằng con mắt thực dụng giữa lão chồng hâm đơ và người vợ còn ngọt bột canh Ajinô Môtô lắm. Lời khuyên như thuyết phục hơn nhờ ngôn ngữ phố phường thời hiện đại. Trong hai thập niên trở lại đây, sự bùng nổ thông tin đã tác động đến ngôn ngữ đời sống và để lại dấu ấn khá rõ ở ngôn ngữ trần thuật. Từ ngữ chuyên môn trở nên phổ biến các thuật ngữ y học, tên các loại bệnh mới HIV-AIDS, viêm não Nhật Bản, sarc, dịch cúm gia cầm…; các khái niệm kinh tế tiền tệ công ty cổ phần, thị trường chứng khoán, cổ phiếu…, các ngôn từ đặc trưng thời đại kĩ thuật số, công nghệ thông tin thư điện tử, chat, truyền hình cáp, nối mạng, trực tuyến…. Những từ ngữ vốn chỉ mới xuất hiện gần đây cũng ùa vào tác phẩm cave gái làm tiền, ô-sin người giúp việc, gay người đồng tính, sếp cấp trên, víp nhân vật quan trọng… Ngôn ngữ thời đại a còng được sử dụng như những phương tiện biểu đạt mới. Xuất hiện cả dạng ngôn ngữ không dấu của người trần thuật lồng vào những đối đáp kiểu trò chuyện chat trên mạng internet Tại sao? Tình Yêu – Y Ban. Ưa chuộng tốc độ tinh thần của lối sống hiện đại, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn sau đổi mới thường ngắn gọn, đơn nghĩa nhưng chứa nhiều thông tin. Chỉ vài dòng phát ngôn, người trần thuật vẫn có thể cung cấp và bình luận nhiều sự kiện đang diễn ra trong đời sống. Chẳng hạn, bằng ngôn ngữ cập nhật lồng vào lời kể chuyện, người trần thuật ẩn tàng trong Cuộn dây Lê Minh Khuê đã tải đến người đọc những vấn đề thời sự Mùa hè năm nay trái đất phập phồng những hiểm họa. Người Ruanđa bắn giết nhau… Người châu Âu chịu cái nóng khủng khiếp… Băng tuyết xuất hiện ở Zimbambuê… Bệnh AIDS lan tràn ở Đông Á… Ngôn ngữ hiện đại đã ùa vào truyện ngắn, chi phối các phát ngôn của người trần thuật. Nói cách khác, thông qua ngôn ngữ trần thuật, truyện ngắn đương đại đã kịp thời tái hiện sinh động bức tranh xã hội hôm nay, từ phương diện lời ăn tiếng nói của con người. 2. Dấu ấn văn hóa vùng miền trong ngôn ngữ trần thuật Chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn sau 1986 bộc lộ khá rõ đặc trưng văn hóa vùng miền. Phương ngữ được sử dụng có chủ ý chứ không chỉ thuần túy do chất giọng “bản địa” của nhà văn. Người trần thuật không những “tải” nội dung truyện kể mà còn “chuyển” những giá trị văn hóa nằm sâu dưới lớp ngôn ngữ. Có vẻ đẹp bình dị của vùng sông nước Cửu Long qua bờ kênh, con rạch, những cù lao xanh… Nguyễn Ngọc Tư. Có chất Huế đặc trưng mà độc giả chỉ có thể cảm nhận qua những phát ngôn cụ thể của người trần thuật Trần Thùy Mai. Chất thâm thúy miền Bắc hay kiểu hồn hậu miền đều được bộc lộ rõ nét. Dấu hiệu nhận biết có thể chỉ là những ngôn từ nhân xưng được đưa vào tác phẩm. Đó là cách nói của người miền Trung khi nhân vật lớn tiếng chửi Tổ cha mồ tổ con mô thằng mô độc mồm độc miệng nói con tau chết. Bà Thỏn – Trần Thanh Hà; là lời chào rặt tiếng địa phương được người trần thuật kể lại rõ ràng Họ gặp nhau Chào eng! Chào ả! Ôi cụ! Ôi mự! Nghe rộn rã trên đường Quê hương – Cao Hạnh. Là ngôn ngữ thuần Nam Bộ khi người trần thuật sử dụng lời ăn tiếng nói dân dã, khắc họa cuộc sống xứ sở miệt vườn Sống trong hồn người khác Ngọc Linh, Sông Hậu xuôi về Nguyễn Lập Em, Mùa gió Trần Minh Thuận… Qua ngôn ngữ trần thuật, phong tục tập quán từng miền cũng được thể hiện rõ nét. Có đời sống du mục hay lênh đênh theo gánh hát của người miền trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Biển người mênh mông, Cánh đồng bất tận. Có nếp sinh hoạt của người Hà Nội trong các khu phố cổ Phố cũ – Nguyễn Văn Thọ… Tuy vậy, thể hiện đậm đặc chất giọng địa phương và tạo thành một dòng văn học vùng miền chỉ có thể là mảng truyện ngắn Nam Bộ. Trong dòng truyện ngắn phương Nam ấy, Nguyễn Ngọc Tư được xem là một tác giả tiêu biểu với nhiều tác phẩm hay Dòng nhớ, Biển người mênh mông, Qua cầu nhớ người, Hiu hiu gió bấc… Đến với văn Ngọc Tư, độc giả có thể hình dung rất rõ về vùng đất Nam Bộ. Từ những mé đìa lục bình, đám trâm bầu, chòm quao, trái giác nấu canh chua bông súng đến cách gọi tên nhân vật anh Hai Nhớ, dì út Thu Lý, dì Tư, út Thà, Sáu Tâm… hay lời ăn tiếng nói thường ngày trời đất, đúng chóc hà, nói gì lãng xẹt vậy ta, nói chơi hoài, như vầy, chút đỉnh… đều gợi lên dáng hình thiên nhiên, con người xứ sở miền Nam. Có thể nói, với ngôn ngữ trần thuật mang đậm dấu ấn văn hóa vùng miền, truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới không những nhiều dáng vẻ mà còn rất gần gũi với đời sống con người. 3. Tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật Truyện ngắn Việt đương đại không còn mang tính chất một giọng, đơn bè, như các thời kì trước. Ngay trong bản thân các phát ngôn của người trần thuật, cùng lúc có thể có cả lời trực tiếp hay những suy tư gián tiếp của nhân vật. Khảo sát tính chất đối thoại trong ngôn ngữ trần thuật hay lời nửa trực tiếp phát ngôn đồng thời của người trần thuật và nhân vật có thể thấy rõ tính chất đa thanh của ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn thời kì này. * Tính chất đối thoại trong ngôn ngữ trần thuật Đối thoại là một dạng lời phát ngôn trực tiếp, mang tính cá thể hóa cao của nhân vật khi tham gia giao tiếp. Trong truyện ngắn, hình thức đối thoại được sử dụng rộng rãi và có vai trò quan trọng trong việc biểu đạt nội dung. Có kiểu đối thoại theo hình thức phân vai, có kiểu lời thoại được nhấn mạnh nhờ những chỉ dẫn của người trần thuật nhằm giản lược hoạt động giao tiếp… Tuy nhiên, người trần thuật vẫn có thể biến lời thoại của nhân vật thành lời của bản thân. Đây là một dạng phát ngôn đặc biệt, thể hiện tính chất nhiều giọng của ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn đương đại. Ở một số tác phẩm, lời nhân vật không được sắp theo thứ tự đối đáp mà đan xen trong lời người trần thuật, nhất là khi người trần thuật là nhân vật xưng tôi, vừa kể chuyện vừa tham gia giao tiếp. Nghĩa là giữa những lời đối thoại, có khi vẫn có những phát ngôn lạc khỏi giao tiếp – những phát ngôn mang tính độc thoại của người trần thuật. Ẩn trong một vai giao tiếp, người trần thuật không chỉ trực tiếp trao đổi với nhân vật mà còn dễ dàng kể chuyện. Chẳng hạn như cách nói sau trong Người ở làng pháo Nguyễn Khải Bà vợ hỏi, một cân đỗ là bao nhiêu nhỉ, một ông khách vừa cười vừa nói, buôn bán như chị là đoảng, ở nhà quê không biết giá đỗ tương còn biết cái gì, một ngàn sáu bà chủ ạ. Chỉ một câu kể mà có thể chứa cả một đoạn trao đổi giữa hai nhân vật tham gia giao tiếp. Người trần thuật đã lược bỏ hoạt động đối thoại bằng lời chỉ dẫn bà vợ hỏi, ông khách vừa cười vừa nói nhằm tạo những điểm nhấn thông tin, biến lời đối thoại thành lời kể. Lời tác giả, lời người trần thuật, lời nhân vật lẫn vào nhau, tạo nên những tranh cãi, đối đáp. Ở truyện ngắn Huệ lấy chồng kiểu lời người trần thuật đan xen với lời thoại nhân vật cũng được Nguyễn Ngọc Tư sử dụng nhằm làm tăng hiệu quả biểu đạt. Đây là lời kể xen lẫn trong những đối đáp giữa hai nhân vật Huệ và Điềm Huệ cười, người ta vậy, mầy còn nhắc làm chi a. Mà, sao bữa nay nghe gió lạnh quá chừng, gió te tái đưa tới một tiếng gà đang gáy, nghe từng giọt, từng tiếng buồn thỉu b. Bằng cách giữ nguyên lời nói của nhân vật trong câu kể, người trần thuật ở đoạn văn trên đã chuyển từ lời đối thoại sang lời độc thoại. Nếu a là lời kể của người trần thuật mệnh đề Huệ cười mang hàm ý đối thoại hướng tới đối tượng giao tiếp là Điềm mầy còn nhắc làm chi thì b đã nghiêng sang dạng độc thoại có hướng. Vẫn như đang nói với Điềm, song cái cảm giác buồn thỉu bởi gió lạnh, bởi tiếng gà te tái chỉ có thể là của riêng Huệ trước ngày xuất giá, khi bóng dáng người cũ chưa hẳn đã phôi phai… Rõ ràng, kiểu trần thuật “nhiều giọng” đã giúp độc giả thâm nhập sâu hơn vào thế giới nội tâm nhân vật. Sự chuyển đổi từ lời đối thoại sang lời kể đã làm lạ hóa kiểu trần thuật đơn âm, tiến tới một kiểu trần thuật đa giọng điệu. * Lời nửa trực tiếp Nếu lời gián tiếp là lời người trần thuật ngôi ba kể về đối tượng; lời trực tiếp là lời nhân vật được truyền đạt thông qua độc thoại và đối thoại; thì lời nửa trực tiếp là kiểu lời nói kết hợp đồng thời hai hình thức phát ngôn gián tiếp bởi người trần thuật và trực tiếp bởi nhân vật nói trên. Lời nửa trực tiếp là “lời của nhân vật có bề ngoài thuộc về tác giả về mặt chấm câu, ngữ pháp nhưng về nội dung và phong cách lại thuộc về nhân vật”2. Trong truyện kể, ngôn ngữ tác giả chủ yếu lại được thể hiện bởi ngôn ngữ người trần thuật, nên xét từ phương diện trần thuật học, có thể xem lời nửa trực tiếp là lời người trần thuật nhưng mang ngôn ngữ nhân vật xuất phát từ điểm nhìn nhân vật. Đây là kiểu “câu hàm ẩn nhiều chủ thể”, “câu lai ghép”, theo cách gọi của Bakhtin. Một trong những đặc điểm cơ bản của lời nửa trực tiếp là tính song điệu giọng người kể và giọng nhân vật lẫn vào nhau. Đây là kiểu lời nói có sự hòa trộn giữa ngôn ngữ người trần thuật ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật. Đoạn văn sau là một ví dụ Lúc về Diệp ôm vai mẹ, Diệp bảo mớ khô cá sặc rằn này hôm nào mẹ tiễn con đi, mẹ nướng rồi xé trộn xoài sống, con thích món này lắm. Nước chảy mây trôi – Nguyễn Ngọc Tư. Thông điệp Diệp ôm vai mẹ, Diệp bảo thích món cá khô trộn xoài sống bao hàm cả hành động của nhân vật được người trần thuật truyền đạt lại. Lời kể này chứa đựng ngôn ngữ nói biểu cảm của nhân vật nên lời người trần thuật và lời nhân vật hoà vào nhau. Không đơn nghĩa như lời trực tiếp, lời nửa trực tiếp thường mở ra nhiều hướng tiếp nhận, trở thành kiểu lời nói đặc trưng cho ngôn ngữ trần thuật phức hợp, đa thanh. Từ sau 1986, truyện ngắn Việt hay sử dụng kiểu lời nửa trực tiếp để đến gần với cuộc sống đa chiều. Đây là phương thức trần thuật gắn với tư duy lí luận hiện đại, có hiệu quả trong việc khám phá dòng tâm trạng – phương diện bộc lộ rõ nhất tư duy phức hợp của con người. Lời nửa trực tiếp có thể cơi nới khuôn khổ truyện ngắn, giúp độc giả khám phá mạch ngầm văn bản, đi sâu vào tâm trạng, bản thể con người với những hồi cố, tự bạch, dòng ý thức lẫn trong giọng kể khách quan của người trần thuật. Về biển Phan Triều Hải, Bụt mệt Hòa Vang, Qua sông hoa Phạm Trung Khâu… là một số tác phẩm sử dụng đắc địa lời nửa trực tiếp. Đây là một đoạn văn được phát ngôn bởi người trần thuật, nhưng lại khoác lớp ngôn ngữ của nhân vật trong truyện ngắn Phan Triều Hải “Bà lẩm bẩm, “mười ba sao rét thế nhỉ”, rồi bà chợt nhớ phải có một cái gì đó để quên rét. Ừ. Quên rét cũng như quên chồng. Phải có một cái gì đó để vùi đầu vào, để tất cả lẫn lộn lên, để không gì còn định hình được nữa. Lúc ấy là quên”3 Những lá thư mùa đông. Ở đây, giọng người trần thuật và nhân vật đan cài vào nhau đến mức khó phân biệt rạch ròi ở những lời nửa trực tiếp với hai chủ thể phát ngôn đồng thời người trần thuật và nhân vật chủ thể hàm ẩn. Không đồng nhất với độc thoại nội tâm, song phần lớn lời nửa trực tiếp đều gắn với ngôn ngữ độc thoại và dòng tâm tư của nhân vật. Đó là trường hợp lời kể của người trần thuật xen lẫn trong chuỗi độc thoại của nhân vật ở Kịch bản Trần Thanh Hà, Chuyến đi săn cuối cùng Sương Nguyệt Minh, Hạnh Nguyễn Thị Minh Dậu, Con thú Dương Quốc Hải… Dòng tâm trạng nhân vật đan xen trong lời người trần thuật cũng là một biến thái khác của lời nửa trực tiếp. Nó là ý nghĩ mang ngôn ngữ bên trong của nhân vật song tồn tại như những diễn từ của người trần thuật nhân danh nhân vật. Trong Có một thời yêu Vũ Thị Hồng, sau những dẫn dắt của người trần thuật là dòng hồi ức tuôn trào của nhân vật Quá khứ như một cuốn phim quay chậm, dửng dưng, tàn nhẫn diễn ra trong óc người đàn ông a. Tất cả không sót một chút gì b. Bắt đầu từ cái buổi đi lấy gạo đáng nguyền rủa ấy chăng? c. Không, phải bắt đầu từ trận tập kích vào Gò Chùa trước đó khi cả tiểu đội ta bị xóa sổ d… Ta bắt đầu nuôi ý định chạy trốn e… Lời nửa trực tiếp ở câu b, c đã dẫn dắt độc giả từ việc nghe kể a đến việc thâm nhập vào chuỗi độc thoại của nhân vật d,e. Lời người trần thuật ngôi ba khi vừa trực tiếp kể chuyện, vừa để câu chuyện được tự bật lên thông qua dòng ý thức của nhân vật, là dạng ngôn ngữ đặc trưng của lời nửa trực tiếp. Sử dụng đặc biệt thành công lời nửa trực tiếp không thể không nhắc đến cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tư. Từ điểm nhìn nhân vật, mượn ngôn ngữ, giọng điệu nhân vật, người trần thuật trong nhiều tác phẩm của nhà văn nữ này đã duyên dáng kể chuyện với con mắt tinh tường của người trong cuộc. Đó là ngôn ngữ trong trẻo nhưng nhiều suy tư của Diệp ở những độc thoại nội tâm được “thốt lên” bởi người trần thuật Đâu nè, đâu phải muốn là làm, cũng phải suy nghĩ đắn đo dữ lắm. Coi lại, làm gì có chuyện con người được sống hồn nhiên như nước chảy mây trôi? Phải chọn lựa và trả giá chớ… Nước chảy mây trôi. Đó là lời nói đầy yêu thương mà người trần thuật chỉ có thể có được từ ngôn ngữ độc thoại của trái tim người mẹ Có nên nói hay không lời xưa rày má thường dạy thằng con trai lớn, rằng sống trên đời, thấy phải thì làm, mà làm cũng đừng nghĩ sẽ được đáp đền xứng đáng, vì có những thứ quý giá lắm, chẳng gì bù đắp được đâu” Qua cầu nhớ người… Ngôn ngữ trần thuật trở nên giàu sức gợi nhờ những lời nửa trực tiếp. Những câu chuyện đời người trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư càng sâu sắc, lan tỏa mãi trong lòng người. Tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật hôm nay xuất phát từ việc tổ chức đồng thời những tiếng nói khác nhau. Sự xen lẫn của lời thoại nhân vật vào lời kể và đặc biệt là hình thức lời nửa trực tiếp đã góp phần làm mới nghệ thuật kể chuyện, cho thấy ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của các cây bút truyện ngắn đương đại. Xem thêm Một cách tiếp cận truyện ngắn Việt Nam đương đại Trong những nỗ lực cách tân, việc đổi mới ngôn ngữ trần thuật là một thành công không thể phủ nhận của truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986. Với cách vận dụng linh hoạt ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ vùng miền; và nhất là với cách tổ chức đồng thời nhiều tiếng nói khác nhau, người trần thuật có vai trò quan trọng trong việc cấu trúc tác phẩm, dẫn dắt mạch truyện. Khảo sát các phát ngôn trong văn bản truyện kể, độc giả có thể phần nào hình dung dược diện mạo của người trần thuật. Hơn thế, thông qua ngôn ngữ trần thuật người đọc còn có thể nhận diện những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn hôm nay. Thái Phan Vàng Anh 1 Lại Nguyên Ân 1999, 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr 338. 2 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi 1999, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, Hà Nội. 3 Người viết nhấn mạnh. Lượt xem 589 THE NARRATIVE POINT OF VIEW – DISCOURSEIN THE SHORT STORIES OF CONTEMPORARY VIETNAMESEFEMALE WRITERS Tác giả bài viết LÊ THỊ THANH XUÂNTrường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế TÓM TẮT Trong xã hội hiện đại, viết và đấu tranh cho quyền lợi và quyền bình đẳng của phụ nữ ngày càng phát triển mạnh mẽ, được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa. Văn học thời kỳ đổi mới, các tác phẩm có chất lượng ngày càng phát triển. Góp phần làm nên thành công cho nền văn học nước nhà có thể kể đến các nhà văn nữ đã tạo được tiếng vang như Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Thị Hoài, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Tư… Đóng góp nên sự thành công đó không thể không nhắc đến yếu tố nghệ thuật điểm nhìn trần thuật điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài trong một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn nữ. Bài viết đi sâu phân tích những đặc trưng nghệ thuật về điểm nhìn trần thuật để thấy rõ dấu ấn đặc biệt về xu hướng “nữ quyền hóa”, một chủ đề đang được quan tâm hiện nay. Từ khóa Điểm nhìn trần thuật, nhà văn nữ, nữ quyền, diễn ngôn, xu hướng. ABSTRACT In modern society, writing and fighting for women’s rights and equality is growing strongly, which is expressed in all fields of politics, economy and culture. Inliterature of the renovation period, the quality of works are growing. Contributing to the success of the country’s literature, we can mention the famous female writers such as Y Ban, Nguyen Thi Thu Hue, Pham Thi Hoai, Tran Thuy Mai, Nguyen Ngoc Tu… Contributing to that success, we cannot fail to mention the artistic elements the narrative point of view the internal point of view and the view of the outside in some typical works of female writers. The article deeply analyzes the artistic characteristics of the narrative point of view to clearly see the special imprint on the “feminist” trend, the topic that is currently of great interest. Keywords The narrative point of view, female writer, feminist, discourse, trend. xx x 1. Mở đầu Có thể thấy rằng, văn xuôi nữ hiện đại ngày càng quan tâm đến các vấn đề thuộc về quyền lợi và bình đẳng của người phụ nữ. Do vậy, vấn đề diễn ngôn về giới càng được quan tâm và là chủ đề đang “hot” hiện nay. Hélène Cixous là người đầu tiên khai phá “lối viết nữ” trong văn chương L’écriture féminine, theo bà giữa giới tính và diễn ngôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, diễn ngôn còn đóng vai trò nâng tầm giới tính. Trong nhiều tiểu luận của mình, bà khẳng định “Phụ nữ phải có hệ thống ngôn ngữ riêng phù hợp với bản thể giới tính của họ, để biểu đạt những đặc thù riêng biệt của mình mà người khác giới không có” Hồ Khánh Vân, 2017, Đó chính là tuyên ngôn về “diễn ngôn” trên địa hạt văn chương của giới nữ. Tiếng nói đấu tranh của các nhà văn nữ cũng chính là khát vọng chính đáng về hạnh phúc của người phụ nữ, họ xứng đáng được nhiều hơn thế. Nói như Thái Phan Vàng Anh thì “Sự lên tiếng của các nhà văn nữ là làm nên một diện mạo khác, riêng so với nam giới” Thái Phan Vàng Anh, 2016, 2. Cơ sở lý luận Hình ảnh nhân vật/ hình tượng nữ giới-chủ thể trong các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại xuất hiện nhiều và đã tạo thành “cơn sốt” cho những người yêu thích văn chương. Có lẽ nét đẹp từ văn phong, ngôn ngữ cùng những đề tài, chủ đề gần gũi cùng cảm xúc tinh tế, những trải nghiệm không thể có ở “giới thứ nhất” chính là “thỏi nam châm” thu hút những độc giả khó tính nhất. Nói như Y Ban thì “Người phụ nữ độc lập, tự chủ hơn. Họ có xu hướng sống cho bản thân mình, chiều chuộng cảm xúc của chính mình. Khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ thể hiện ở khát vọng chinh phục người đàn ông. Và chinh phục người khác giới cũng chính là chinh phục chính mình” Y Ban, 2011, Đa phần các tác phẩm đều nói về người phụ nữ, từ cách đặt tiêu đề và âm hưởng tự sự học cũng như hình thức tự thuật trong từng tác phẩm. Vấn đề về nữ quyền Thuật ngữ “Nữ quyền” có thể được hiểu qua những bình diện sau – Về phương diện lý luận nữ quyền được xem như là một tiền đề lý thuyết đấu tranh cho sự bình đẳng của giới nữ. – Về phương diện hoạt động thực tiễn phong trào nữ quyền đóng vai trò quan trọng giành quyền cho phụ nữ trên các phương diện chính trị, kinh tế, đặc biệt là việc bảo vệ và đề cập đến các quyền cơ bản của con người. – Về góc độ nghề nghiệp nữ quyền đấu tranh hướng tới các mục tiêu bình đẳng Nam và Nữ bình đẳng giới trong hoạt động nghề nghiệp xã hội, đoàn thể và cá nhân. Có thể nói, khái niệm “Nữ quyền” luôn gắn liền với ý thức giới và bình đẳng giới, nhân vị giới và tính mẫu của người phụ nữ. Tư tưởng nữ quyền chính là tư tưởng nữ học quan trọng, mở ra tiền đề mới để người phụ nữ tham gia vào các công việc khác trong xã hội, không còn quẩn quanh trong các công việc bếp núc đơn điệu, tẻ nhạt thường ngày nữa. Cũng chính từ đó, người phụ nữ có tiếng nói trong xã hội thì các quyền lợi khác về chính trị, hôn nhân, lao động sẽ được bảo đảm và vững chắc hơn. Ngôi trần thuật và điểm nhìn về giới Nhắc đến diễn ngôn trần thuật về giới, không thể bỏ qua điểm nhìn trần thuật từ giới nữ điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài. Ngôi trần thuật thường là ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ nhất tác giả xưng “tôi”, tạo cảm giác thân quen, kể chuyện về cuộc đời, số phận, những bi kịch và sự đấu tranh vươn lên khẳng định cái tôi bản ngã của người phụ nữ. Văn phong gần gũi, bình dị, mộc mạc như chính tính cách và tâm hồn người phụ nữ Việt. Điểm nhìn chính là các nhà văn nữ, những người cùng giới với tâm hồn nhạy cảm, phong phú và tràn đầy niềm tin yêu, sự cảm thông sâu sắc về giới. Ngôn ngữ, giọng điệu của các nhà văn nữ rất đa dạng như hoài nghi, chất vấn, triết lý, mỉa mai, châm biếm, có khi lại là những tâm sự trữ tình, chất chứa tình cảm sâu nặng… Nhân vật nữ có sự chuyển biến linh hoạt giữa đối thoại và độc thoại nội tâm như chính tiếng lòng của các nhà văn nữ-cũng chính là khát vọng luôn hướng đến những giá trị tốt đẹp của người phụ nữ, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Điểm nhìn trần thuật là một vấn đề quan trọng trong phương thức nghệ thuật bởi theo Trần Đình Sử trong Giáo trình dẫn luận thi pháp học 1998 thì “Điểm nhìn văn bản là phương thức phát ngôn trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả. Khái niệm điểm nhìn mang tính ẩn dụ, bao gồm mọi nhận thức, đánh giá, cảm thụ của chủ thể đối với thế giới” Nhiều tác giả, 2012, Điểm nhìn trần thuật cũng chính là cách thức kể chuyện với những sáng tạo, hư cấu cá nhân của tác giả về những lời độc thoại, đối thoại, cách sắp xếp và phát triển sự kiện trong tác phẩm. Theo tác giả Phạm Ngọc Hiển 2018, điểm nhìn trần thuật “có liên quan tới tất cả các thành tố khác trong tác phẩm. Ở mức độ cao hơn, nhiều tác giả còn xây dựng “chiến lược” điểm nhìn, nhằm tạo ra một tác phẩm mà trong đó điểm nhìn trở thành “nhân vật” chính” Phạm Ngọc Hiển, 2018, Có rất nhiều dạng điểm nhìn khác nhau nhưng trong giới hạn bài viết, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích làm rõ hai phạm trù cơ bản là điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài về giới để thấy rõ tinh thần nữ quyền trong văn xuôi đương đại Việt Nam. 3. Phương pháp nghiên cứu Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau phương pháp so sánh, khảo sát, thống kê và phương pháp cấu trúc, hệ thống. – Phương pháp so sánh với phương pháp này, chúng tôi tham khảo tài liệu về các tác phẩm của các tác giả nữ có sự đối chiếu với truyện ngắn của các nhà văn nam viết về giới và thể hiện được điểm nhìn trần thuật bao gồm điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài. Sau đó, chúng tôi tiến hành phân tích nội dung diễn ngôn về giới để thấy rõ sự khác nhau trong cách thức biểu hiện của hai giới. – Phương pháp khảo sát, thống kê với phương pháp này, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê số lượng về ngôi và điểm nhìn về giới trong một số tác phẩm tiêu biểu. – Phương pháp cấu trúc, hệ thống từ sự tổng hợp, phân tích ở trên, chúng tôi tiến hành phương pháp cấu trúc, hệ thống đểrút ra những đánh giá, nhận định chung về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu. Vì đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi bài báo nên số lượng tác phẩm chúng tôi lựa chọn để thống kê, khảo sát, đó là những tác phẩm tiêu biểu nhưng vẫn thể hiện đầy đủ tinh thần về “giới thứ hai”, có ảnh hưởng rất lớn trong khuynh hướng sáng tác phê bình văn học nữ quyền hiện đại. 4. Kết quả nghiên cứu Điểm nhìn bên trong Điểm nhìn bên trong với điểm nhìn là nhân vật trong tác phẩm, người kể chuyện thường xưng “tôi” hoặc có thể đứng ở ngôi thứ ba để kể chuyện. Với điểm nhìn bên trong thì không hề có khoảng cách giữa nhân vật và người kể chuyện. Bởi vì người kể chuyện chính là nhân vật, người kể chuyện như “hóa thân” vào nhân vật, thấu hiểu mọi suy nghĩ, tính cách của nhân vật. Thế giới nội tâm nhân vật được thể hiện đa chiều nhất thông qua điểm nhìn bên trong. Đây cũng chính là sự “hòa quyện” của tận cùng nỗi đau cùng với nhân vật. Nhân vật “tôi” đóng vai trò là chủ thể phát ngôn cũng chính là người kể chuyện, dẫn dắt câu chuyện theo những diễn biến tâm lý của nhân vật. Truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư là một ví dụ như thế “Sẽ còn bao nhiêu người nữa được cha tôi cho nếm thử niềm đau kia, tôi tự hỏi mình khi nhìn vào người đàn ông vào tuổi bốn mươi, quyến rũ từ cái cười, từ câu nói, ánh nhìn thăm thẳm, ngọt ngào. Trời ơi, trừ chị em tôi, không ai thấy được đằng sau khuôn mặt chữ điền ngời ngợi đó là một hố sâu đen thăm thẳm, bến bờ mờ mịt, chơi vơi, dễ hụt chân” Nguyễn Ngọc Tư, 2010, Có khi là nỗi đau bất tận của người phụ nữ không có lối thoát đối với các nhân vật của Y Ban “Đầu óc tôi mụ mị. Tôi muốn chết. Tôi chết thì ai chăm con gái tôi. Nó cũng là con gái. Tôi khóc. Thật may tôi khóc được” Y Ban, 2006, Hay có khi còn là độc thoại nội tâm ẩn chứa khao khát sống, hạnh phúc và được yêu thương của một manơcanh trong truyện Sống của Mai Thy “Chàng đang cười, và tôi thấy cả thế giới của mình qua cánh tay của chính tôi?! Tại sao tôi không thấy đau chút nào? Bóng tối chợt ập đến. Mọi âm thanh, mọi cảm giác thành xa xôi. Tôi đang ở đâu? Tôi muốn trở về thế giới tràn ngập ánh sáng của mình. Hay đây mới chính là thế giới của tôi?! Tôi là ai. Không, tôi là cái gì?!…” Mai Thy, 2015, Có thể thấy rằng, phương thức kể chuyện với ngôi thứ nhất, nhân vật xưng “tôi” đã được “phổ quát hóa” trong hầu hết các truyện ngắn nữ Việt Nam hiện đại. Như nhà văn Y Ban trong một lần phỏng vấn, đã xác tín “Tôi hay kể chuyện ở ngôi thứ nhất, để tự đặt mình vào vị trí của những nhân vật người đàn bà trong truyện. Tôi cảm thấy, điều đó cho phép tôi khai thác nội tâm nhân vật một cách triệt để và biểu hiện nó một cách sâu sắc hơn. Với những truyện ngắn có cốt truyện nặng về tâm lý, tôi thường kể ở ngôi thứ nhất” Y Ban, 2011, “Tôi” cũng chính là đại diện cho tiếng nói của các nhà văn nữ trẻ đấu tranh bảo vệ quyền bình đẳng của người phụ nữ trên nhiều phương diện. Ý thức giới và tinh thần nữ quyền được nâng cao qua mỗi tác phẩm của các nhà văn nữ bởi ý nghĩa nhân văn cao cả. Những câu chuyện được kể / tự thuật bởi chính nhân vật “tôi” đã đem đến cho người đọc một bức tranh muôn màu sắc về xúc cảm. Tự thuật là một phương thức nghệ thuật được sử dụng chủ yếu trong văn xuôi bao gồm cả truyện ngắn và tiểu thuyết “Trong quá trình tự thuật, người phụ nữ viết văn vừa bộc lộ và thể hiện bản thân, vừa sáng tạo ra chính mình thông qua thế giới hình tượng. Tự thuật vừa là khởi nguồn, là chất liệu của sáng tạo, đồng thời cũng vừa là đích đến, là sản phẩm sinh ra từ hành trình sáng tạo ấy” Hồ Khánh Vân, 2017, Đó là cái “tôi” cá tính dù biết phải đối diện với nhiều thị phi “Cái gì cũng có giá của nó. Tôi không muốn sống trong cuộc sống gia đình tù túng thì tôi sống một mình với con. Nhưng tôi sợ sự cô đơn thì tôi phải có bạn tình. Tôi yêu một người đàn ông có vợ. Tôi chấp nhận sự chia sẻ đó” Y Ban, 2005, Cái “tôi” đầy đam mê, cuồng nhiệt ái tình nhưng không nhuốm sắc màu nhục dục mà văn phong lại rất tự nhiên, phóng khoáng “Tôi muốn áp môi tôi lên môi chàng, nhưng tôi sợ chàng thức giấc và như thế khoảnh khắc kỳ diệu ấy sẽ biến tan đi. Nhưng cơn đói khát chàng đã làm tôi dừng lại ở đó… Tay tôi run rẩy lần cởi những chiếc khuy áo màu cánh gián, từng chiếc, từng chiếc một…” Lê Thị Hoài Nam, 2001, Cái “tôi” đầy đau đớn, điên dại trong một cuộc hôn nhân không có tình yêu, hạnh phúc “Tôi lặng lẽ nhìn chồng tôi với đôi mắt của người chết đuối. Cơn đau hành hạ tôi. Tôi âm thầm chịu, không rên rỉ. Đêm ấy tôi nằm mơ thấy một con nai trúng tên, nằm khắc khoải chờ chết trong một xó rừng” Trần Thùy Mai, 2004, Và đôi lúc còn là “sự quẫy đạp”, xác lập sự công bằng về giới “Tôi không quan tâm phúc phận, tôi chỉ thấy nước mắt mẹ chảy ra vì tôi. Bà là một người đàn bà bất hạnh. Nỗi bất hạnh bắt nguồn từ tình yêu bà dành cho những người xung quanh. Bà không tin vào sự công bằng, tôi lại càng không. Nhưng tôi biết trong cả hai mẹ con luôn có một ngọn lửa le lói chờ có cơ hội bùng lên. Là hy vọng, niềm tin còn lại hay sự phản kháng?” Nhiều tác giả, 2012, Nhân vật “tôi” chính là bản thể của cái “tôi” tự thuật/cái “tôi” chiêm nghiệm/cái “tôi” giãi bày. Điều đó được thể hiện qua ngôn ngữ, giọng điệu đầy thiên tính nữ trong từng tác phẩm. Thế nhưng, cái “tôi” tự thuật trong truyện ngắn hoàn toàn khác với cái “tôi” tự thuật trong tiểu thuyết. Nói như cách nói của nhà phê bình Hồ Khánh Vân 2013 thì cái “tôi” tự thuật trong truyện ngắn được xếp vào “cấp độ thấp” còn trong tiểu thuyết thì được xếp vào “cấp độ cao”. Bởi tiểu thuyết là “tấm gương phản chiếu” cuộc đời của tác giả nữ còn truyện ngắn chỉ là những “lát cắt” trong cuộc đời của chính họ. Vì vậy, truyện ngắn đúng như tên gọi của nó, có độ ngắn hơn so với tiểu thuyết, và có thể hư cấu và tưởng tượng theo ý đồ tác giả. Như vậy, lối viết mà ở đây là lối viết nữ chính là “hành ngôn văn học được biến đổi vì mục đích xã hội của mình”. Đó cũng chính là thế mạnh của các nhà văn nữ, dùng yếu tố diễn ngôn để biểu đạt các vấn đề xã hội có tính trọng tâm của xã hội, tiêu biểu là điểm nhìn về giới. Điểm nhìn bên ngoài Với điểm nhìn bên ngoài thì người kể chuyện chỉ có thể đi sâu vào hành động, lời nói bên ngoài của nhân vật chứ không đi sâu phân tích thế giới nội tâm của nhân vật. Điểm nhìn bên ngoà i tạo nên một khoảng cách vô hình giữa nhân vật và người kể chuyện nhưng vẫn biểu đạt được nội dung, tư tưởng của tác phẩm. Chính lời nói, hành động lại là “chất xúc tác” để độc giả hiểu rõ hơn về tư duy nhân vật. Vì suy cho cùng, hành động chính là cách để khẳng định cái tôi nhân vật. Có thể thấy rõ qua cách kể chuyện thông qua ngôi thứ ba số ít từ đó bộc lộ hành động nhân vật tạo nên ý nghĩa nhân văn của tác phẩm. Ví như truyện I’am đàn bà của Y Ban “Cu đừng trêu chị nhé. Cu làm chị tủi thân lắm đấy. Chị cũng là con người, cũng khao khát nhớ nhung…” Y Ban, 2006, Cách nhân vật xưng “cu – chị” vừa là chất giọng hoạt kê vừa giúp nói giảm, nói tránh bi kịch nhân vật. Hầu hết trong tác phẩm, Y Ban đã có cách gọi nhân vật rất độc đáo chỉ bằng một từ “thị”. Chính cách gọi tên rất mộc mạc này đã lý giải được hành động và suy nghĩ chân chất, thánh thiện của thị khi quyết định vào phòng ông chủ bởi hành động của thị suy cho cùng “Cái chính là thị thương ông chủ” Y Ban, 2006, Truyện Trăng nơi đáy giếng của Trần Thùy Mai viết về một người phụ nữ Huế công dung ngôn hạnh, một lòng một dạ vì chồng nhưng sự hy sinh đó lại dành cho kẻ không xứng đáng. Tác giả gọi nhân vật là “cô Hạnh”, đó là cách gọi khuôn phép theo lễ nghi phong kiến của người Huế xưa và nó cũng nói lên sự chịu đựng, cam chịu của người phụ nữ Huế. Hy sinh vì chồng nhưng lại nhận được thái độ dửng dưng của người chồng dẫn đến hành động “đạp đổ” tất cả, kể cả người chồng mà cô đã từng coi như “thánh sống” “Cô Hạnh đứng bật dậy, run bần bật như bị xúc phạm nặng nề. Hai hàm răng cô đánh cầm cập vào nhau, rồi bỗng cô thình lình vớ lấy cả cái khay ấm chén trước mặt, ném vào người chồng cũ” Trần Thùy Mai, 2004, Có lẽ sau tất cả mọi biến cố, sự tự do tự tại chính là niềm hạnh phúc vô biên của người đàn bà chân chính, chịu nhiều đau khổ như cô Hạnh. Điểm nhìn bên ngoài là sự đánh giá khách quan về cuộc đời và số phận của các nhân vật nữ, bằng những danh xưng/ cách gọi tên khác nhau như “ta”, “nàng”, “cô”, “chị”, “em”… Điểm đặc biệt là hình tượng người phụ nữ đã được khắc họa thật rõ nét, là hình tượng trung tâm của tác phẩm qua nhận xét khách quan của chính các nhân vật trong tác phẩm. Những cảm xúc tận cùng của nỗi đau hay sự thăng hoa của tình yêu, hạnh phúc đều được miêu tả một cách chân thực, trọn vẹn thông qua những danh xưng thật bình dị, gần gũi. Các tác giả nữ đã “đóng vai” và “nhập vai” thông qua một tuyến nhân vật khác, để kể về thân phận giới nữ sao mà tự nhiên và thân thương, giàu chất nhân văn đến như vậy! Đó là một cô gái trẻ hồn nhiên với một tình yêu cao cả với một người đàn ông lớn tuổi bán thân bất toại, bất chấp sự phản đối của gia đình. Có thể nói, sự hy sinh thầm lặng để yêu và được yêu, bất chấp rào cản tuổi tác, địa vị là điều đáng quý và đáng trân trọng “Cô ao ước một ngày kia có đủ can đảm ngả vào ngực ông, thổn thức thổ lộ rằng cô xin dâng cuộc đời nguyên vẹn của cô, tuổi xuân của cô cho ông nếu ông không chê cô xấu xí. Rồi dù ông chấp nhận hay không, cô sẽ cứ lặng lẽ sống bên ông cho tới khi ông ra đi, chỉ cần được nghe giọng ông thủ thỉ bên cạnh, được khám phá tâm hồn ông qua từng trang viết” Đoàn Lê, 2010, Và đôi khi, là sự “hóa thân” để nói về những ẩn ức tính dục, bản năng tính dục đầy bản ngã, tự nhiên của người phụ nữ “Anh quàng tay ôm chị bế bổng lên và chạy gằn ra hầm. Hình như Ngần nói đúng _ chị cảm nhận trọn vẹn cơ thể và hơi hướng của đàn ông tỏa ra từ anh. Và chị xôn xao khao khát, về một điều gì đó chẳng rõ ràng, bất chấp cơn sốt vẫn hành hạ, bấy chấp bom đạn sắp rơi trên đầu” Nhiều tác giả, 2009, Hay đơn giản chỉ với cách gọi nhân vật – “người đàn bà” 40 tuổi, sành điệu, giàu có, luôn khao khát tình yêu nhưng cuối cũng vẫn cô đơn “Người đàn bà không thể tìm được câu trả lời nhưng hơn ai hết người đàn bà biết rất rõ về sự đau đớn và nỗi cô đơn đang ngày càng thít chặt” Y Ban, 2005, Có những lúc, tác giả nữ gọi tên nhân vật đầy yêu thương, trìu mến, với những vẻ đẹp bình dị, thân thuộc của người phụ nữ “Liên có nụ cười tươi, đôi môi đỏ tự nhiên, miệng cười, mắt cười, hàm răng như những hạt bắp non còn thơm mùi nắng và gió, mùi đất đai, thảo mộc, mùi tươi nguyên của thiên nhiên mới mẻ và bền vững”… Nhiều tác giả, 2009, Suy cho cùng, nhân vật chính trong các truyện ngắn là người phụ nữ, nhưng dù có gọi bằng danh xưng gì, với những điểm nhìn khác nhau thì người phụ nữ vẫn giống nhau ở chỗ họ cùng trải qua những biến chuyển thăng trầm của cuộc sống. Bản lĩnh của họ được “tôi luyện” qua từng giai đoạn khó khăn của cuộc đời. Tất cả những người đàn bà trong tác phẩm “Dù cho khổ đau, mặc cho vẻ bề ngoài khô cứng, có lúc cô đơn đến tận cùng thì bên trong vẫn là một trái tim ấm nóng, muốn quan tâm người và muốn người quan tâm, khát khao được sống, được yêu, được là bản thân mình” Y Ban, 2011, Từ kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng, tần số xuất hiện của điểm nhìn trần thuật với cách kể chuyện ngôi thứ nhất tôi có thể là điểm nhìn của tác giả/nhân vật/người kể chuyện với chiếm số lượng nhiều nhất, tiếp sau đó là các danh xưng khác. Bảng 1. Bảng tổng hợp lượt đánh giá về số lượng về ngôi xuất hiện trong các sáng tác của 6 tác giả cụ thể. Bảng 2. Bảng tổng hợp lượt đánh giá về số lần xuất hiện của điểm nhìn trần thuật. Có thể thấy, điểm nhìn bên trong xuất hiện với tầng suất thường xuyên khi chúng tôi khảo sát trong một số tác phẩm tiêu biểu, điều đó thể hiện diễn ngôn nghệ thuật của các nhà văn nữ luôn gắn liền với sự phát triển và tiến bộ của xu hướng bình đẳng giới. Các tác phẩm của các nhà văn nữ chính là “vũ khí” đấu tranh sắc bén cho sự tiến bộ, bình đẳng, tự do, hạnh phúc, là đại diện cho tiếng nói của giới nữ trong xã hội hiện đại. 5. Thảo luận và đề xuất Như vậy, có thể thấy được rằng điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài không chỉ được thể hiện qua ngôn ngữ câu chữ mà nó còn thể hiện được thế giới nội tâm phong phú của nhân vật cũng chính là sự tinh tế, tài hoa, đầy xúc cảm của “lối viết nữ”. Đó là một tâm hồn dào dạt tình yêu thương giữa con người với con người và cho chính thân phận đầy trắc trở, dư ba của giới nữ. Chúng tôi nhận thấy rằng, có sự tương đồng trong “lối viết nữ” bởi các tác giả nữ đã khéo léo “mượn” trục dẫn là ngôn ngữ điểm nhìn bên trong / bên ngoài để khai phá nguồn mạch cảm xúc, thế giới tâm hồn phong phú và đầy cá tính, mạnh mẽ, độc lập bên trong mỗi người phụ nữ hiện đại. Dù là phương Tây, phương Đông, châu Á hay châu Âu, khác nhau về lối sống, văn hóa nhưng tâm hồn của người phụ nữ như những “dòng suối nguồn yêu thương”, họ luôn sống và yêu thương, cống hiến hết mình cho gia đình và xã hội. Những trải nghiệm mang thai, sinh con, hành kinh, đau khổ, mất mát… chính là những điểm nhìn mà các nhà văn nam giới không thể diễn tả chân thật bằng “lối viết nữ”. Điều đó cho thấy, diễn ngôn về giới / lối viết nữ luôn có sức thu hút khó cưỡng với cách kể chuyện dung dị, đầy yêu thương, mang đậm “hơi thở thời đại”. Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng đặc trưng nghệ thuật trong điểm nhìn trần thuật trong sáng tác của các nhà văn nữ đương đại như một sự dịch chuyển, đồng hành đậm cá tính sáng tạo- một lối tư duy “khác”, “riêng biệt” trong kỹ thuật tạo dựng thế giới sống trong tác phẩm. Đó chính là các mạch nguồn sáng tác đầy mới lạ, gần gũi, quen thuộc về chính phụ nữ và “diễn ngôn về thân thể” của người phụ nữ đã hình thành nên phong cách của tác phẩm/ tác giả, định hình cho sự phát triển vững mạnh của “lối viết nữ” sau này. Làm được điều này, giới nữ phải “tự mình” phá vỡ đi những quy chuẩn, biểu tượng mà nam giới và xã hội đã xác lập trước đó bằng lối viết tự thuật ngẫu nhiên. Nói như Hélène Cixous 2007 thì “Cá nhân người nữ phải viết chính mình, phải khám phá cho riêng mình cơ thể mình cảm thấy như thế nào, và làm sao để viết về thân thể ấy trong ngôn ngữ. Rõ ràng hơn, phụ nữ phải tìm ra dục tính của mình, dục tính chỉ bắt nguồn từ thân thể của họ, và tìm cách viết về khoái cảm ấy” Phê bình văn học nữ quyền hiện đại là một lĩnh vực thú vị và mới mẻ, đối với sinh viên khi tìm hiểu về tác phẩm/ tác giả có liên quan về giới, thiên tính nữ cần làm rõ được các khái niệm về tự sự, thi pháp học và tránh nhầm lẫn giữa điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài để có được kết quả nghiên cứu/ học tập tốt nhất. 6. Kết luận Nói tóm lại, diễn ngôn về giới thông qua phương thức trần thuật đã thể hiện trọn vẹn vẻ đẹp và thiên tính nữ, đồng thời các tác giả nữ thông qua những tác phẩm của mình còn kêu gọi sự tranh đấu mạnh mẽ cho quyền bình đẳng giới. Đó cũng chính là cuộc tranh đấu không ngừng của người phụ nữ cho quyền sống và quyền tự do để đáp ứng những khao khát hạnh phúc đời thường của người phụ nữ. Tiếng lòng của các nhân vật nữ cũng chính là tâm hồn đầy trắc ẩn của các tác giả nữ. Đúng như nhận định của nhà văn Y Ban khi bàn về vấn đề người phụ nữ viết văn“Những nhà văn nữ thực sự đang đóng góp cho sự tiến bộ của xã hội, của các tác phẩm của mình. Bắt đầu từ việc họ thay đổi chính mình, tiến bộ hơn, văn minh hơn. Tôi muốn xã hội hãy đọc tác phẩm của nhà văn nữ như một sự lắng nghe, một sự thấu hiểu. Vì đó chính là tiếng lòng của họ, là những khát khao tự giải phóng bản thân mình” Y Ban, 2011, tr. 2. TÀI LIỆU THAM KHẢO Đoàn Lê 2010. Đoàn Lê và sex. Hà Nội Nxb Thanh niên. Cixous, H. 2007. Tiếng cười nàng Medusa. Tạp chí Da màu, 22, 311-312. Hồ Khánh Vân 2013. Một vài lý giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ 1990 đến nay. Trích xuất từ Hồ Khánh Vân 2017. Vài nét phác họa về tư tưởng của bốn nhà nữ quyền tiên phong. Trích xuất từ Lê Thị Hoài Nam 2011. Người ơi. Huế Nxb Thuận Hóa. Mai Thy 2015. Đầy tớ Mẹ xin nghỉ phép. TP. Hồ Chí Minh Nxb Văn hóa -Văn nghệ. Nhiều tác giả 2009. 55 truyện ngắn chọn lọc về tình yêu. Hà Nội Nxb Thanh niên. Nhiều tác giả 2012. Điểm nhìn nghệ thuật trong văn học. Trích xuất từ Nguyễn Ngọc Tư 2010. Khói trời lộng lẫy. Hà Nội Nxb Thời đại. Phạm Ngọc Hiển 2018. Thi pháp học. TP. Hồ Chí Minh Nxb Tổng hợp. Thái Phan Vàng Anh 2010. Trần thuật từ điểm nhìn bên trong ở tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Trích xuất từ Thái Phan Vàng Anh 2016. Văn xuôi các nhà văn nữ thế hệ sau 1975 nhìn từ diễn ngôn giới. Hội thảo Khoa học quốc gia “Thế hệ nhà văn sau 1975”. Đại học Văn hóa Hà Nội. Thái Phan Vàng Anh 2017. Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Lạ hóa một cuộc chơi. Huế Nxb Đại học Huế. Trần Thùy Mai 2004. Đêm tái sinh. Huế Nxb Thuận Hoá. Trần Đình Sử 2007. Giáo trình dẫn luận thi pháp học. Huế Trung tâm đào tạo từ xa, Đại học Huế. Y Ban 2005. Cưới chợ. Hà Nội Nxb Văn học. Y Ban 2006. I’am đàn bà. Hà Nội Nxb Công an nhân dân. Y Ban 2011. Hãy lắng nghe tác phẩm của các nhà văn nữ. Trích xuất từ Nguồn Tạp chí Khoa học Ngôn ngữ và Văn hóa, ISSN 2525-2674, Tập 4, Số 2, 2020 Thánh Địa Việt Nam Học .Quan niệm nghệ thuật Phương thức trần thuật Nghệ thuật trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng làm lên nét độc đáo của tác phẩm và phong cách của mỗi nhà văn. Đây cũng được coi là phương thức cơ bản và quan trọng khẳng định phong cách của nhà văn. Nếu một nhà văn có khả năng viết tự sự tốt thì sẽ góp phần đưa người đọc tìm hiểu về cội nguồn bên trong tâm sự của mỗi tác giả. Mỗi nhà văn khi bắt tay vào viết truyện ngắn bao giờ cũng bắt đầu từ việc lựa chọn điểm nhìn, và theo đó là nhân vật người kể chuyện. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, trần thuật là “phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật nhất định” [ “Trần thuật” là một thuật ngữ thuộc chuyên ngành Lí luận văn học. Trần thuật vừa là phương thức vừa là đặc trưng quan trọng không thế thiếu đối với loại tác phẩm tự sự. Văn xuôi trong thời kì đổi mới đã đem lại nhiều biến đổi trong nghệ thuật trần thuật. Từ bỏ sự áp đặt một quan điểm được cho là đúng đắn nhất vì đó là quan điểm của cộng đồng, ngày nay người viết có thể đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, chính kiến khác nhau. Để làm được điều đó, cách tốt nhất là chuyển dịch điểm nhìn vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình và để cho các ý thức cùng có quyền phát ngôn, cùng đối thoại, sự thay đổi vai kể, cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảo ngược và xen kẽ các tình tiết, sự việc không theo một trật tự thời gian duy nhất, tất cả những thủ pháp ấy đều nhằm tạo ra được hiệu quả nghệ thuật mới. Trong sự đa dạng về phương thức trần thuật, nhiều nhà văn lại ưa thích cách kể chuyện từ ngôi thứ nhất với vai kể là một nhà văn, nhà báo, một người chứng kiến, quan sát kể lại câu chuyện về người khác hoặc kể về chính mình. Trong truyện ngắn của Lê Văn Thảo cách tân nghệ thuật trần thuật bằng sự sáng tạo kiểu “người kể chuyện không đáng tin cậy” rất khác với “người kể chuyện biết hết” khá phổ biến trong văn xuôi trước đây. Kiểu nhân vật kể chuyện biết hết sẽ rất phù hợp với văn xuôi sử thi, giống như người trần thuật vô hình mà biết hết mọi điều trong các tác phẩm sử thi cổ đại. Người trần thuật trong nhiều truyện ngắn của nhà văn Lê Văn Thảo thường công khai nói về sự không biết hết mọi điều do mình kể lại, thậm chí có khi còn đánh lạc hướng độc giả hoặc kể ra những điều nửa tin, nửa ngờ, loại nhân vật kể chuyện này thể hiện quan điểm phi sử thi, không muốn và không tin rằng người kể có thể áp đặt một quan điểm duy nhất lên mọi sự việc và cho mình luôn có cách nhìn đúng đắn nhất. Trong văn xuôi của Lê Văn Thảo nói chung và truyện ngắn nói riêng, ông thường sử dụng phương thức trần thuật từ nhân vật xưng tôi, ví như các truyện Thàng Cung, Bà nội tôi, Đứa cháu gái, Đi tìm chồng, Đêm Tháp Mười, Anh cà kheo ghé qua làng,... Nhân vật tôi kể “Bà nội tôi nuôi gà, nuôi heo, trâu có ba đôi, chó mèo mặc sức sinh đẻ chạy nhảy trong nhà. Cảnh nhà bà nội tôi nói chung khang trang từ trước ra sau, chỉ trừ bà nội tôi lúc nào cũng lam lũ tất bật, quanh năm chỉ bộ đồ bà ba đen bạc phếch, tay áo xoăn tới khuỷu, quần xoăn tới gối, đầu trần chân đất suốt ngày lặn lội ngoài đồng. Bà nội tôi quán xuyến tất cả việc cầy, cấy, gặt, đập hơn mười mẫu ruộng...” [ Qua những hồi tưởng của nhân vật tôi, người đọc như chìm vào dòng cảm xúc miên man và sâu lắng về người bà, người mẹ cả đời tần tảo sớm hôm nuôi cháu, nuôi con và che chở cho cách mạng. Nhân vật bà nội là điển hình cho những người mẹ, những người phụ nữ Việt Nam đã âm thầm hi sinh và cống hiến “Mẹ ki cóp từng đồng xu, chắt chiu từng hạt gạo, suốt đời tần tảo vất vả đến khô quắt cả hình hài để rồi nhắm mắt xuôi tay bỏ lại tất cả trên cõi trần. Những bà mẹ như vậy ngỡ như chẳng bao giờ lo lắng gì đến đại sự, chẳng mảy may tác động đến lịch sử, nhưng nếu không có họ thì đã không có đất nước này, dân tộc này” [ Hay trong truyện ngắn Đêm Tháp Mười, Lê Văn Thảo để cho nhân vật tôi - người chiến sĩ cách mạng kể về những ngày từng chiến đấu ở một vùng sông nước mênh mông. Nhân vật tôi kể lai “Năm đó mùa mưa ở Tháp Mười kéo dài hơn mọi năm, gần cuối tháng mười mà trời vẫn còn mù mịt...”. Từ đây số phận những con người đi ra từ cuộc chiến dần được hé mở. Vượt lên trên những mất mát, những khó khăn của cuộc sống đời thường là bài học về tình đời, tình người trong cuộc sống. Với điểm nhìn trần thuật từ nhân vật xưng tôi đã tạo ra tính khách quan, chân thực trong từng trang viết của ông. Người đọc có cảm giác được sống cùng với nhân vật, với câu chuyện được kể. Cho nên, Lê Văn Thảo chinh phục nhiều thế hệ bạn đọc bằng lối kể tự nhiên và nhẹ nhàng. Hầu như không thấy sự gắng gượng hay dàn dựng nào trong tác phẩm của ông. Bằng lối kể dung dị, Lê Văn Thảo đã đánh thức những rung động rất nhẹ nhưng cũng rất đằm sâu ở người đọc, mở ra chiều sâu của cái đẹp ẩn giấu sau những điều ngỡ bình thường, đơn giản. Mỗi câu chuyện là một bài ca ngọt ngào về tình yêu con người và cuộc sống, để lại ấn tượng sâu đậm trong kí ức bạn đọc. Lê văn Thảo kể chuyện cứ như không, cứ như ông đang ngồi trước mặt người đọc mà kể lại bằng giọng Nam Bộ đặc trưng của ông về những câu chuyện ông trông thấy, nghe thấy. Truyện ngắn của ông ít có dấu vết của sự dụng công, mà nhân vật cứ hiện lên rõ nét, bất ngờ. Đây cũng là một trong những yếu tố góp phần khẳng định phong cách riêng của nhà văn Lê Văn Thảo. Bé gi¸o dôc vµ µo t¹o TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN LAM CHÂU NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TẠ DUY ANH LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC HÀ NỘI, 2010Bé gi¸o dôc vµ µo t¹o TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN LAM CHÂU NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TẠ DUY ANH Chuyên ngành Lí luận văn học M sè 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học TS. Nguyễn Thị Kiều Anh HÀ NỘI, 2010LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS. Nguyễn Thị Kiều Anh - người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban Giám hiệu Trường ĐHSP Hà Nội 2, Viện Văn học, Trường ĐH KHXH và Nhân văn, Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch Hà Nội, Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà nội 2 và các thầy cô giáo Phòng Sau đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2. Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, tạo mọi điều kiện giúp đỡ để luận văn của tôi được hoàn thành. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong luận văn này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Kiều Anh. Luận văn này chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào. Nếu những lời cam đoan trên là sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Hà Nội, tháng 10 - 2010 Tác giả luận văn Nguyễn Lam Châu Môc lôc trang më Çu 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Lịch sử vấn đề 3 3. Mục đích nghiên cứu 7 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 7 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7 6. Phương pháp nghiên cứu 8 7. Những đóng góp mới 8 8. Cấu trúc của luận văn 8 NỘI DUNG 9 Chƣơng 1 Một số vấn đề lí luận về trần thuật học 9 Nghệ thuật trần thuật 9 Khái niệm trần thuật 9 Các yếu tố cơ bản của trần thuật 11 Vai trò của nghệ thuật trần thuật trong xây dựng tiểu thuyết 19 Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 21 Hành trình đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam từ 1975 đến nay 21 Những cách tân và thể nghiệm hình thức trần thuật mới 25 Tạ Duy Anh trong bối cảnh văn học đương đại 32 Chƣơng 2 Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh 36 Điểm nhìn gắn với ngôi kể 37 Sự dịch chuyển điểm nhìn 48 Sự dịch chuyển từ điểm nhìn bên ngoài sang điểm nhìn bên trong 49 Sự dịch chuyển điểm nhìn theo không gian, thời gian 58 Chƣơng 3 Ngôn ngữ trần thuật, giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh 65 Ngôn ngữ trần thuật 65 Ngôn ngữ người kể chuyện 66 Ngôn ngữ nhân vật 69 Giọng điệu trần thuật 77 Giọng điệu chất vấn, đay đả 79 Giọng điệu giễu nhại 82 Giọng điệu bỗ bã dung tục 89 Giọng điệu trữ tình thiết tha sâu lắng 91 Giọng điệu triết lí, suy ngẫm 93 KẾT LUẬN 99 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Lâu nay, tiểu thuyết vẫn được xem là một loại hình tự sự tiêu biểu. Nó mãi tồn tại ở “thì hiện tại chưa hoàn thành” Bakhtin và có vị trí quan trọng trong nền văn học nhân loại. Văn học Việt Nam từ sau 1975 và nhất là sau năm 1986 đã có sự khởi sắc của văn xuôi, trong đó tiểu thuyết vẫn là thể loại chủ đạo, bộc lộ ưu thế của mình trong cách “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và con người trong sự vận động, phát triển, đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của công chúng đương đại. Văn học Việt Nam thời kì đổi mới đã có những bước chuyển mình so với giai đoạn trước đó. Nếu như ở những năm tiền đổi mới 1975 - 1985, tiểu thuyết vẫn theo hướng nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực trên một bình diện rộng, cảm hứng sử thi vẫn chiếm vị trí đáng kể trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn thì bước vào thời kì đổi mới, trong không khí dân chủ của đời sống văn học, tiểu thuyết thực sự bùng phát, thăng hoa, đặc biệt là có sự đổi mới ở tư duy nghệ thuật. Những mạch nguồn truyền thống đã được thay thế bằng những cảm hứng mới, những khám phá sáng tạo. Những trang viết về con người cá nhân, về cuộc sống đời thường với tất cả sự phức tạp và bề bộn đã xuất hiện, thay thế những cảm hứng sử thi truyền thống trước đó. Điều đó trước hết là nhu cầu tự thân của giới văn nghệ sĩ và cũng là phù hợp với đường lối văn nghệ của Đảng được đề ra ở Đại hội Đảng lần VI “Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”, “phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng ta mới có thể vượt qua khó khăn, thực hiện được những mục tiêu do Đại hội lần 2 thứ VI đề ra”. Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khuyến khích văn nghệ đổi mới “…văn hóa, văn nghệ nước ta càng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ cách làm”, “Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo, rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, phát triển các loại hình nghệ thuật, các hình thức biểu hiện”. Hưởng ứng đường lối đổi mới văn học, các tác giả như Lê Lựu, Bảo Ninh, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Thị Thu Huệ, Tạ Duy Anh… đã góp phần tạo nên diện mạo mới của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới. Trong xu hướng cách tân thể loại tiểu thuyết, Tạ Duy Anh được xem là một hiện tượng nổi bật với nhiều thể nghiệm văn chương táo bạo. Đi sâu tìm hiểu sáng tác của Tạ Duy Anh, chúng tôi nhận thấy, các tác phẩm của nhà văn đã đặt ra những vấn đề nghiêm túc về cuộc sống, chứa đựng những giá trị thẩm mĩ mới mẻ của một cây bút trẻ khát khao sáng tạo. Từ quan niệm về hiện thực, về con người cho đến cách tổ chức truyện, ngôn ngữ, giọng điệu… Tạ Duy Anh đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ, góp phần làm phong phú thêm cho nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam. Nghệ thuật trần thuật là một trong những phương diện cơ bản nhất của phương thức tự sự, một yếu tố quan trọng để tạo nên hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Nghiên cứu nghệ thuật trần thuật là một việc làm có ý nghĩa giúp ta có cơ sở để hiểu sâu sắc hơn giá trị của tác phẩm, đồng thời thấy được tài năng và những đóng góp của nghệ sĩ vào tiến trình văn chương. Nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, một mặt cho ta thấy rõ hơn những cố gắng cách tân nghệ thuật của nhà văn, mặt khác, qua những sáng tác của Tạ Duy Anh, chúng ta có thể nhìn rõ hơn sự vận động của tư duy tiểu thuyết trong giai đoạn hiện nay. 3 2. Lịch sử vấn đề Các sáng tác của Tạ Duy Anh, ngay từ khi mới ra đời đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo bạn đọc cũng như giới phê bình văn học, đã trở thành một trong những tâm điểm của báo chí và là đề tài của nhiều công trình nghiên cứu khoa học. Trước hết phải kể đến là thành công khởi nghiệp của ông - truyện ngắn Bước qua lời nguyền - tác phẩm đoạt giải trong cuộc thi viết về nông thôn do Tuần báo Văn nghệ, báo Nông nghiệp và Đài tiếng nói Việt Nam tổ chức 1989. Nhà thơ Hoàng Minh Châu nhận định rằng đây là truyện ngắn báo hiệu một tấm lòng lớn, một tầm nhìn xa và một tài năng viết về số phận con người. Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến cũng cho rằng đây là tín hiệu về một dòng văn học mới, dòng văn học “bước qua lời nguyền” và ở đó là một khát vọng đổi mới, một tiềm năng sáng tạo mới. Tạ Duy Anh đã không làm người đọc thất vọng bằng một hành trình sáng tạo không mệt mỏi. Sau Bước qua lời nguyền, Tạ Duy Anh đã cho ra đời tiểu thuyết Lão Khổ. Đây có thể coi là bước ngoặt trong sáng tác của Tạ Duy Anh bởi nó đã thể hiện một kiểu tư duy khác, một lối viết tiểu thuyết khác. Tác giả Đoàn Ánh Dương trong bài Tiến trình tiểu thuyết Tạ Duy Anh nhìn từ lối viết khẳng định “Không còn là sự nhất phiến, liền mạch của câu chuyện, tiểu thuyết hiện lên bởi một “chuyện chính yếu” và rất nhiều những “chuyện ngoài rìa”, tức về mặt hình thức, Lão Khổ là sự lắp ghép từ các phiến đoạn khác nhau, nhiều truyện ngắn trong một tiểu thuyết. Ý định một cấu trúc như vậy đã khẳng định một tư duy mới về tiểu thuyết, được Tạ Duy Anh mượn lời Đức Thánh nhân để tuyên ngôn “ Ngôi nhà chỉ giá trị ở cái phần không có gì đó sao” [12]. Gần 10 năm sau, năm 1999, tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh ra mắt công chúng. Đây là một tác phẩm lạ, khác hẳn so với tiểu thuyết Việt Nam đương thời. Nhà văn đã đạt đến lối viết đa âm hiện đại, mà theo 4 Trần Quang “từ cách đặt vấn đề đầu tiên đến cấu trúc tiểu thuyết, phong cách ngôn ngữ… đều lạ lẫm với những gì chúng ta được biết về dòng tiểu thuyết non trẻ Việt Nam” [16, Đến Thiên thần sám hối năm 2004 thì Tạ Duy Anh đã thực sự trở thành “một hiện tượng văn học nổi bật”, “một gương mặt nhà văn tiêu biểu”. Trong lời giới thiệu cuốn Thiên thần sám hối của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2004 có đoạn viết “Thiên thần sám hối là một thử nghiệm mới trong sáng tạo, một thử nghiệm đầy day dứt, trong đó những yếu tố phi lí, hoài nghi, liên thông, bất ngờ và mang đậm dấu ấn chủ quan, tạo nên cái riêng của tác phẩm” [1, Tác giả Dương Thuấn trong bài viết Nét đặc sắc của Thiên thần sám hối là không mượn mồm người biết nói cho rằng Thiên thần sám hối ra đời, “Tạ Duy Anh đã chứng minh cho bạn đọc thấy rằng - anh viết theo một lối viết mới - lối viết tiểu thuyết của riêng Tạ Duy Anh”. Tác phẩm “mang một lối viết hoàn toàn hiện đại. Điều đó thể hiện rõ nhất trong cách kể, cách dẫn chuyện, nghệ thuật mê hoặc bạn đọc” [42]. Báo Thể thao và Văn hóa số 47 năm 2004 viết “Có thể gọi ông là nhà văn của đạo đức. Văn chương ông có lúc hiện lên bằng thế sự, đau đáu, riết róng chuyện thánh thiện, tàn ác, liêm sỉ và vô lương… Tiểu thuyết mới nhất của Tạ Duy Anh, Thiên thần sám hối, gọn nhẹ và giản dị về hình thức… chứa đựng những ẩn số lớn về con người và nhân thế” [Tạ Duy Anh 2004, Thiên thần sám hối - Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản - Báo Pháp luật số 140 năm 2004 cũng đã đánh giá “Tạ Duy Anh là tác giả của những tác phẩm luôn làm bạn đọc giật mình và suy ngẫm bởi những vấn đề gai góc của xã hội hiện đại. Ông cũng là tác giả tâm huyết, trăn trở với số phận con người, nhất là khi họ rơi vào tình trạng khủng hoảng nhân cách. Trong lăng kính đa chiều, Tạ Duy Anh đã nhìn hiện thực một cách lí trí, 5 lạnh lùng nhưng cũng đầy thương xót con người” [Tạ Duy Anh 2004, Thiên thần sám hối - Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản Tiểu thuyết gần đây nhất của Tạ Duy Anh, Giã biệt bóng tối, cũng là một tiểu thuyết gây sự chú ý trong bạn đọc và giới phê bình. Tiểu thuyết đã được Phòng Văn học Việt Nam đương đại đem ra tọa đàm bởi tính chất đặc biệt của nó trong bối cảnh đời sống văn học đương đại. Có rất nhiều ý kiến đưa ra trong buổi tọa đàm. Những thành công, hạn chế của nhà văn ở tiểu thuyết này được chỉ ra trên tinh thần thẳng thắn. Theo Bích Thu, “Với Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh không chỉ đổi mới tư duy tiểu thuyết, đổi mới cách nhìn thế giới và con người mà còn đổi mới bút pháp khiến độc giả có thể đọc một mạch và cảm thấy lôi cuốn với tác phẩm” [5, Tôn Phương Lan lại khẳng định “Sự nỗ lực của Tạ Duy Anh thể hiện ở chỗ anh luôn luôn tự làm mới mình từ Lão Khổ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối cho đến Giã biệt bóng tối. Trong cuốn tiểu thuyết, tác giả đã có những cách tân trong quá trình triển khai đề tài Từ điểm nhìn trần thuật đến giọng điệu giễu nhại, việc sử dụng yếu tố huyền ảo… Chính những yếu tố này đã làm mới sáng tác của Tạ Duy Anh so với đồng nghiệp và cũng làm anh không lặp lại mình trong từng tác phẩm” [5, Tác giả Đoàn Ánh Dương trong bài viết Tiến trình tiểu thuyết Tạ Duy Anh nhìn từ lối viết cũng đưa ra nhận xét “về mặt tư duy nghệ thuật, rõ ràng Giã biệt bóng tối là một bước chuyển về mặt lối viết, đúng hơn là một câu hỏi về lối viết tiểu thuyết bây giờ cần phải được viết nhƧn thuật trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, từ đó thấy được những đóng góp mới trong tư duy nghệ thuật của Tạ Duy Anh ở lĩnh vực tiểu thuyết trong văn xuôi đương đại Việt Nam. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu những lí luận cơ bản về nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết. Đây là nhiệm vụ cần thiết, là nền tảng và cơ sở để người viết thực hiện những nhiệm vụ tiếp theo. - Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật qua một số tiểu thuyết Lão Khổ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh, qua đó thấy được những nét độc đáo trong nghệ thuật kể chuyện của tác giả. 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu Với đề tài đã chọn, luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu một số phương diện cơ bản như điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật nhằm làm sáng tỏ những nét đặc sắc về nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh. - Phạm vi nghiên cứu Tạ Duy Anh sáng tác ở cả hai lĩnh vực tiểu thuyết và truyện ngắn. Tuy nhiên trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở thể loại tiểu thuyết, trong một phương diện cụ thể, đó là Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh. 8 Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi khảo sát 4 tiểu thuyết + Thiên thần sám hối 2004, Nhà xuất bản Đà Nẵng. + Lão Khổ 2005, Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản. + Đi tìm nhân vật 2008 - in trong tập Trò đùa của số phận, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai tái bản. + Giã biệt bóng tối 2008, Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau - Phương pháp phân tích - tổng hợp - Phương pháp thống kê - phân loại - Phương pháp so sánh - đối chiếu 7. Những đóng góp mới Thông qua việc thực hiện đề tài, chúng tôi muốn đề xuất một hướng tiếp cận mới về tiểu thuyết của Tạ Duy Anh từ phương diện trần thuật. Từ đó, chỉ ra sự độc đáo về điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh. Trên cơ sở của những kết quả thu được, tác giả luận văn hy vọng sẽ góp phần giúp độc giả hiểu sâu sắc hơn các giá trị của tiểu thuyết Tạ Duy Anh, đồng thời thấy được những đóng góp của nhà văn đối với tiến trình phát triển của văn xuôi đương đại Việt Nam. 8. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương Chương 1 Một số vấn đề lí luận về trần thuật học Chương 2 Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh Chương 3 Ngôn ngữ trần thuật, giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh 9 NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TRẦN THUẬT HỌC Nghệ thuật trần thuật Khái niệm trần thuật Ngay từ đầu thế kỉ XX, trần thuật đã là một vấn đề lý thuyết tự sự thu hút sự quan tâm của rất nhiều chuyên gia trên thế giới. Từ đó đến nay lí luận trần thuật đã đạt được một số thành quả quan trọng. Có thể kể đến là các nghiên cứu về tự sự của các nhà hình thức Nga Eikhenbaum; nguyên tắc đối thoại của loại hình học về kĩ thuật trần thuật Anh Mĩ do khởi thảo và tu chỉnh; các nghiên cứu về loại hình trần thuật của các học giả Đức các quan niệm của nhà cấu trúc người Czech các học giả Nga và Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở nước ta, trần thuật cũng là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Đã có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này. Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chưa thể bao quát được tất cả những quan niệm ấy mà chỉ dẫn ra một số định nghĩa mà chúng tôi cho là tiêu biểu và được nhiều người quan tâm hơn cả. Trong bài Việc mở ra môn trần thuật học trong ngành nghiên cứu văn học ở Việt Nam, tác giả Lại Nguyên Ân có viết “Trần thuật narration trỏ phương thức nghệ thuật đặc trưng trong các tác phẩm thuộc văn học tự sự tương tự, trầm tư / méditation / đặc trưng cho văn học trữ tình, đối thoại đặc trưng cho văn học kịch”, “Thực chất của hoạt động trần thuật là kể, là thuật, là cái được kể, được thuật, trong tác phẩm văn học là chuyện” [32, 10 Theo Từ điển thuật ngữ văn học, trần thuật“là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật nhất định” [17, Cùng với quan điểm này là định nghĩa trong Giáo trình lí luận văn học “Trần thuật là kể, thuyết minh, giới thiệu về nhân vật, sự kiện, bối cảnh trong truyện. Trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự kiện nhân vật theo một thứ tự nhất định.” [35, Qua đây có thể thấy, khái niệm trần thuật được sử dụng không phân biệt với khái niệm kể chuyện. Chúng đều là những cách dịch khác nhau của từ “narrative” trong tiếng Anh. Tuy nhiên đây là khái niệm gắn bó chặt chẽ với loại hình tự sự cho nên nó thường được nhắc đến trong khi nghiên cứu tự sự. Gắn với những cách gọi này là một số quan điểm đánh giá khác nhau. Bàn về kể chuyện, cho rằng “Kể - là một hành vi trần thuật, và theo nghĩa rộng là cả một tình thế hư cấu bao gồm cả người trần thuật narrateur và người nghe kể narrataire” [32, F. M. Forstes nhận định “Kể chuyện là cách kết hợp những đơn vị ngôn ngữ thành những cấu trúc lớn hơn và trên thực tế mọi việc sử dụng ngôn ngữ thì đều liên quan đến hoặc kéo theo cảm giác về thời gian chiều hướng hành động” [18, Như vậy, trần thuật là một vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Qua nghiên cứu, tìm hiểu những quan niệm trên, tựu trung có thể thấy Trần thuật trước hết là một phương thức nghệ thuật đặc trưng trong các tác phẩm thuộc thể loại văn học tự sự, thực chất của hoạt động trần thuật là việc kể lại, thuật lại những sự kiện, con người, hoàn cảnh… theo một thứ tự nhất định, dưới một cái nhìn nào đó. Nghiên cứu nghệ thuật trần 11 thuật giúp ta có cơ sở để khẳng định giá trị của tác phẩm đồng thời khẳng định tài năng và những đóng góp của nhà văn vào tiến trình văn chương. Các yếu tố cơ bản của trần thuật Như trên đã trình bày, trần thuật là vấn đề lí luận thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, vì thế, các yếu tố cấu trúc của nó cũng không ngừng được tìm hiểu và khám phá. Đề cập đến các yếu tố của trần thuật, trong cuốn Bàn về văn học đã chỉ ra rằng “Trong tiểu thuyết hay truyện, những con người được tác giả miêu tả đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả, tác giả luôn luôn ở cạnh họ, mách cho người đọc biết rõ phải hiểu họ như thế nào, giải thích cho người đọc hiểu những ý nghĩ thầm kín, những động cơ bí ẩn phía sau những hành động của các nhân vật được miêu tả, tô đậm thêm cho tâm trạng họ bằng những đoạn miêu tả thiên nhiên, trình bày hoàn cảnh và nói chung là luôn giật dây cho họ thực hiện những mục đích của mình, điều khiển một cách tự do và nhiều khi khéo léo, mặc dù người đọc không nhận thấy những hành động, những lời lẽ, những việc làm, những mối tương quan của họ” [17, Như vậy, M. Gorki đã kể ra các thành phần của trần thuật không chỉ gồm lời thuật, chức năng của nó, không chỉ là kể việc mà nó bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú tác giả. Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử thì trần thuật gồm sáu yếu tố cơ bản là người kể chuyện, ngôi trần thuật và vai trần thuật; điểm nhìn trần thuật; lược thuật; miêu tả chân dung và dựng cảnh; phân tích, bình luận; giọng điệu. Theo chúng tôi, trần thuật đòi hỏi trước hết phải có người kể. Chủ thể của hoạt động kể phải xử lí tốt mối quan hệ giữa chuỗi lời kể với chuỗi các sự kiện và nhân vật. Và như vậy có hai nhân tố quy định tới trần thuật 12 là người kể chuyện và chuỗi ngôn từ. Từ người kể chuyện ta có ngôi trần thuật, điểm nhìn trần thuật; từ chuỗi ngôn từ ta có ngôn ngữ trần thuật, giọng điệu trần thuật, không gian trần thuật, thời gian trần thuật… Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số yếu tố tiêu biểu thuộc nghệ thuật trần thuật của Tạ Duy Anh. Vì thế chúng tôi sẽ tiến hành xác lập những khái niệm cơ bản có liên quan đến những vấn đề nằm trong phạm vi nghiên cứu. Điểm nhìn trần thuật Một trong những thuật ngữ được giới nghiên cứu văn học và thi pháp học bàn tới nhiều nhất ở thế kỉ XX là điểm nhìn trần thuật Điểm nhìn nghệ thuật. Vấn đề điểm nhìn trong tiểu thuyết được nhà văn Anna Barbauld nêu ra từ đầu thế kỉ XIX, khi nhận thấy mọi sự đều thay đổi, nếu người ta kể theo ngôi thứ nhất. Đến cuối thế kỉ XIX, vấn đề được Henry James và F. Schlegel trình bày cụ thể hơn. Đầu thế kỉ XX, K. Friedeman 1910 rồi Percy Lubbock 1921 và E. M. Foster 1927 lại đề cập đến điểm nhìn trong tiểu thuyết. Từ những năm bốn mươi trở đi, vấn đề được nghiên cứu sâu với M. Scholer, Tz. Tôđôrốp, G. Genette. Các tác giả từ những năm hai mươi như B. Tômasépxki, M. Bakhtin, V. Vinôgrađốp cùng bàn về điểm nhìn văn bản. Thuật ngữ điểm nhìn được định danh bằng nhiều từ khác nhau trong các tài liệu, chẳng hạn viewpoint, view, point of view, vision… Thực tế cho thấy, các nhà lí luận phê bình cũng sử dụng rất nhiều những thuật ngữ khác nhau để cùng nói về khái niệm này. Chẳng hạn, với Henry James là trung tâm của nhận thức centre of consciousness, Percy Lubbock điểm nhìn Point of view, Jean Pouillon tầm nhìn vision, Allen Tate vị trí quan sát post of obeservation, Cleanth Brooks và Robert Penn Warren tiêu điểm truyện kể focus of narrative… 13 Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng khái niệm điểm nhìn dễ hiểu hơn và nội dung phong phú hơn, nó không chỉ là điểm nhìn thuần túy quang học như khái niệm tiêu cự, tụ tiêu, mà còn mang nội dung quan điểm, lập trường tư tưởng, tâm lí của con người. Theo Từ điển văn học thế giới Dictionnary of the World Literaturre khẳng định điểm nhìn “là mối tương quan trong đó chỉ vị trí đứng của người kể chuyện để kể câu chuyện… Nó có thể chi phối hoặc là từ bên trong hoặc là từ bên ngoài. Ở điểm nhìn từ bên trong, người kể chuyện là một trong các nhân vật; do đó câu chuyện được kể từ ngôi thứ nhất. Điểm nhìn từ bên ngoài được mang lại từ một ý nghĩ từ bên ngoài, của người không phải là một phần của câu chuyện; trong trường hợp này, câu chuyện thường được kể từ ngôi thứ ba” [18, Bàn về vai trò của điểm nhìn trong cấu trúc của loại tác phẩm tự sự, Pospelov cho rằng “Trong tác phẩm tự sự, điều quan trọng là tương quan giữa các sự vật với chủ thể trần thuật hay nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả” [31, Trong công trình Bản chất của tự sự của R. Scholes và R. Kellogg xuất bản lần đầu vào năm 1966, vấn đề điểm nhìn đã được xem xét như là một trong những yếu tố quan trọng tạo dựng cấu trúc tác phẩm và xác lập mô hình truyện kể. Theo R. Scholes và R. Kellogg thì “điểm nhìn là vấn đề chính của nghệ thuật kể chuyện, nó không chia sẻ với thơ ca hoặc là văn học kịch. Ở đây mối quan hệ giữa người kể chuyện - truyện kể và mối quan hệ giữa người kể chuyện - độc giả thực chất là nghệ thuật kể chuyện” [33, Trong bài Quan niệm về điểm nhìn nghệ thuật của R. Scholes và R. Kellogg và một số vấn đề khi áp dụng các mô hình lí thuyết phương Tây vào nghiên cứu tác phẩm tự sự của tác giả Cao Kim Lan thì điểm nhìn được hiểu một cách đơn giản “chính là “mánh khóe” thuộc về kĩ thuật, một phương 14 tiện để chúng ta có thể tiến đến cái đích tham vọng nhất sức quyến rũ của truyện kể. Và dù có sử dụng cách thức nào, phương pháp hay kĩ thuật nào thì mục đích cuối cùng của người sáng tạo cũng chỉ là mê hoặc độc giả, buộc anh ta phải đọc” [33, Henry James trong Nghệ thuật văn xuôi 1884 xác lập điểm nhìn chính là “mô tả cách thức tồn tại của tác phẩm như một hành vi mang tính bản thể hoặc một cấu trúc hoàn chỉnh tự trị đối với cá nhân nhà văn” và “Điểm nhìn là sự lựa chọn cự li trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sống hơn” [33, Quan niệm này đã đánh dấu một bước phát triển đáng kể trong nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện, kể từ đó, điểm nhìn nghệ thuật được coi là một nhân tố bộc lộ kĩ thuật tiểu thuyết của nhà văn, một mắt xích khách quan, nội tại duy nhất mà theo đó chúng ta có thể đánh giá được “tay nghề” của tác giả. Giáo sư Trần Đình Sử so sánh điểm nhìn với hình ảnh chiếc ống kính camera dẫn dắt người cầm bút khám phá hiện thực và đưa người đọc đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Tìm hiểu điểm nhìn thực chất là tìm hiểu một kiểu quan hệ, một phương thức tiếp cận của nhà văn với hiện thực. Điểm qua một số quan niệm trên, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu đều coi điểm nhìn nghệ thuật là yếu tố đặc biệt quan trọng giữ vai trò then chốt trong sáng tạo nghệ thuật. Điều này rất có cơ sở bởi không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn, nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật. Trên thực tế, giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống. Sự thay đổi của nghệ thuật bắt đầu từ đổi thay điểm nhìn. Mặt khác, thông qua điểm nhìn trần thuật, người đọc có dịp đi sâu tìm hiểu cấu trúc tác phẩm và phong cách của nhà văn. 15 Ngôn ngữ trần thuật Theo Từ điển thuật ngữ văn học “ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học”, “là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học” [17, Vì vậy văn học mới được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ. M. Go-rơ-ki cũng khẳng định“ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” [17, Một nhà văn đích thực phải tự ý thức về mình như một nhà ngôn ngữ vì ngôn ngữ là “yếu tố đầu tiên quy định cung cách ứng xử” [32, của anh ta, là phương tiện bắt buộc để anh ta giao tiếp với bạn đọc. Đối với văn chương, ngôn ngữ không chỉ là cái vỏ của tư duy mà còn là tài năng, cá tính và quan điểm nghệ thuật, do đó giọng điệu của tác phẩm trước hết cũng là giọng điệu ngôn ngữ. Ở mỗi thể loại văn học, ngôn ngữ lại có những đặc trưng riêng. Nếu như kịch chủ yếu sử dụng ngôn ngữ đối thoại, thơ trữ tình khai thác ngôn ngữ ở phương diện bộc lộ cảm xúc thì văn xuôi tự sự trong đó có tiểu thuyết là ngôn ngữ trần thuật. So với ngôn ngữ thơ ca thì ngôn ngữ văn xuôi có phạm vi hoạt động tự do, dân chủ và linh hoạt hơn. Ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ đa dạng, ngôn ngữ của nhiều tính cách bao gồm ngôn ngữ của người trần thuật, ngôn ngữ nhân vật và lời nói nước đôi. Trong đó, ngôn ngữ người trần thuật, ngôn ngữ nhân vật giữ vai trò quyết định tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm tự sự. Ngôn ngữ người trần thuật “là phần lời văn độc thoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện sản phẩm sáng tạo của tác giả đối với cuộc sống được miêu tả, có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ” [17, Ngôn ngữ người trần thuật chẳng những có vai trò then chốt trong phương thức tự sự mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả. 16 Ngôn ngữ nhân vật “là lời nói của nhân vật trong các tác phẩm thuộc các loại hình tự sự và kịch” [17, Ngôn ngữ nhân vật chính là một trong các phương tiện quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật. Trong tác phẩm, nhà văn có thể cá thể hoá ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách nhấn mạnh cách đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lặp lại những từ, câu mà nhân vật thích nói… Dù tồn tại dưới dạng nào hoặc được thể hiện bằng cách nào thì ngôn ngữ nhân vật cũng phải đảm bảo sự kết hợp sinh động giữa cá thể và tính khái quát. Nghĩa là một mặt, mỗi nhân vật có một ngôn ngữ mang đặc điểm riêng, mặt khác ngôn ngữ ấy phải phản ánh được đặc điểm ngôn ngữ của một tầng lớp người nhất định gần gũi về nghề nghiệp, tâm lí, trình độ văn hóa… M. Gorki đã gọi “khẩu ngữ là máu của văn xuôi nghệ thuật”. Ngôn ngữ không chỉ đóng vai trò nuôi dưỡng mà còn làm nên thần thái, đặc tính mĩ học của văn xuôi nghệ thuật. Giọng điệu trần thuật Giọng điệu là một phương diện cơ bản cấu thành hình thức nghệ thuật của văn học. Đại văn hào Lep Tônxtôi đã từng nhận xét “Cái khó nhất khi bắt tay viết một tác phẩm mới không phải chuyện đề tài, tài liệu mà phải lựa chọn một giọng điệu thích hợp”. Giọng điệu không những thể hiện bản lĩnh mà còn quyết định bản sắc tác giả. Một tác phẩm thành công là một tác phẩm đa giọng điệu nhưng luôn phải có một giọng chủ âm. Giọng điệu là mối giao lưu cảm nhận giữa người đọc và người kể, thiếu một giọng đặc trưng, tác phẩm sẽ trở nên mờ nhạt. Các nhà nghiên cứu Việt Nam thường coi giọng điệu là “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả, thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu 17 tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…” [17, Tác giả Nguyễn Thái Hoà trong cuốn Những vấn đề thi pháp của truyện khẳng định “giọng điệu chính là mối quan hệ giữa chủ thể và hiện thực khách quan thể hiện bằng hành vi ngôn ngữ trong đó bao hàm cả việc định hướng đánh giá và thói quen cá nhân sử dụng ngôn từ trong những tình huống cụ thể” [20, Trần Đình Sử trong Dẫn luận thi pháp học cũng chỉ ra rằng “Giọng điệu giúp ta nhận ra tác giả. Có điều giọng điệu ở đây không giản đơn là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói, mà là một giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ, ứng xử trước các hiện tượng đời sống” [34, Các nhà nghiên cứu nước ngoài lại phân biệt giọng điệu ra làm “voice” giọng, và “tone” giọng điệu. Trong Từ điển phong cách học, Katie Wales quan niệm “voice” được dùng “để miêu tả ai là người nói trong trần thuật”. “tone” “được dùng với nghĩa một phẩm chất âm thanh đặc biệt nào đó có liên quan đến những cảm xúc hoặc tình cảm đặc biệt nào đó” [18, G. N. Pospelov coi giọng điệu là “cái kiểu cách dùng để kể câu chuyện” [30, Theo nhà bác học Nga M. Bakhtin thì “giọng điệu bao giờ cũng thể hiện thái độ lập trường của chủ thể” [14, Là một yếu tố cốt yếu tạo nên phong cách nghệ thuật, giọng điệu cho phép ta hiểu hơn chiều sâu, sự phong phú của chủ thể sáng tạo. Trên thực tế, giọng điệu vừa là một hiện tượng nghệ thuật kết tinh sự độc đáo của nhà văn, vừa là một hiện tượng có tầm văn hóa ảnh hưởng to lớn đến các thời đại văn học. 18 M. B. Khrapchenco trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học cũng đã dành một số lượng trang không ít để nói về giọng điệu. Theo ông, giọng điệu là một yếu tố cơ bản của phong cách nghệ thuật. Một nhà văn tài năng bao giờ cũng phải tạo ra được một giọng điệu độc đáo. M. B. Khrapchenco cũng khẳng định “Đề tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong một môi trường và giọng điệu nhất định đối với đối tượng sáng tác, đối với những mặt khác nhau của nó. Hiệu suất cảm xúc của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu vốn là đặc trưng của tác phẩm văn học với tư cách là một thể thống nhất hoàn chỉnh” [21, -168]. Nhìn một cách tổng quát, các ý kiến của M. B. Khrapchenco đã đề cập đến ba vấn đề chính thứ nhất, giọng điệu gắn với cảm hứng chủ đạo, giọng điệu góp phần tăng, giảm hiệu suất cảm xúc của tác phẩm văn chương; thứ hai, trong tác phẩm, có sự xuất hiện của giọng điệu chủ yếu và các sắc điệu bao quanh với tư cách bè đệm; thứ ba, giọng điệu thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau từ ngữ, kết cấu, cách thức tạo nhịp, gieo vần, cách sử dụng môtip và xây dựng hình tượng… Đây có thể coi là một cái nhìn khá đầy đủ và xác đáng về giọng điệu trong tác phẩm văn học nói chung. Điểm qua các khái niệm về giọng điệu, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu đã gặp nhau ở một số điểm đó là kiểu cách dùng giọng để kể, là lập trường quan điểm và nổi bật nhất là “thái độ” đối với hiện tượng được miêu tả. Như vậy giọng điệu trần thuật chính là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học, cùng với các phạm trù nghệ thuật khác, nó góp phần không nhỏ tạo nên sự thành công và bản sắc riêng cho tác giả. Chính vì thế khi nghiên cứu sáng tác của một nhà văn không thể không nghiên cứu giọng điệu nghệ thuật của họ bởi đó là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên phong cách nhà văn. vạn hóa của phương thức trần thuật. Văn bản trần thuật là câu chuyện được kể hay chính bản thân hành vi kể sự thể hiện quá trình phát triển từ đơn giản đến phức tạp của phương thức trần thuật. Misen Buytor nhà văn Pháp hiện đại thuộc trường phái Tiểu thuyết mới đã có những ý kiến sâu sắc về vấn đề kể chuyện trong văn xuôi nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng “Tiểu thuyết là một hình thức kể chuyện đặc biệt vượt quá giới hạn của văn chương; đó là một trong những phương thức hết sức quan trọng giúp con người nắm bắt được thực tại …. Cái được kể liên quan đến cả những con người, những sự vật, những đồ vật và nơi chốn mà bản thân chúng ta chưa bao giờ đến, nhưng có một ai đó đã mô tả cho chúng ta nghe … Tiểu thuyết là những phòng thực nghiệm kể chuyện… Các hình thức kể chuyện khác nhau cũng tương ứng với các hình thức khác nhau của thực tại” [32, - 380]. Tác giả Dương Tinh Ánh nữ giáo sư văn học Đại học Sư phạm Trùng Khánh và Học viện Tân Văn đã vận dụng khá thành công lí thuyết tự sự học Trích đoạn Lượt xem 591 THE MOVEMENT OF THE TREND WITH THE NARRATIVEOVERVIEW IN VIETNAMESE PROSE AFTER 1975 Tác giả bài viết NGUYỄN THỊ TUYẾT MINHTrường Đại học Sư phạm Hà Nội TÓM TẮT Trần thuật là phương diện hình thức cơ bản của tác phẩm tự sự, có vai trò rất quan trọng trong việc chuyển tải ý đồ nghệ thuật cũng như thái độ thẩm mĩ của nhà văn. Bài viết này nhằm tổng kết, khái quát hóa bình diện điểm nhìn trần thuật – một bình diện nổi bật, thể hiện rõ sự đổi mới của thực tiễn văn xuôi nước ta sau 1975 và góp phần khắc họa trung thực bức tranh văn học sử mà người đọc, người học, người dạy Ngữ văn hiện nay đang quan tâm. Từ khóa Điểm nhìn trần thuật, văn xuôi sau 1975, Việt Nam. ABSTRACT Narration is an aspect of the basic form of narrative works of art, plays a important role in conveying the artistic purpose and aesthetic attitude of the writer. This article is used for the purpose of summarizing, generalizing the narrative point of view-a prominent level. Futhermore, this article also reflects the innovation of practical prose in Vietnam after 1975 and contributes to portraying honestly the painting of literature and history which the reader, the learner, the literature lecturer are now interested in. Keywords Narrative point of view, prose after 1975, Vietnam. xx x 1. Mở đầu Trần thuật là phương diện hình thức cơ bản của tác phẩm tự sự, có vai trò quan trọng trong việc chuyển tải ý đồ nghệ thuật cũng như thái độ thẩm mĩ của nhà văn. Nhân loại thế kỉ XXI đạt được thành tựu to lớn trong lĩnh vực tự sự/ trần thuật học – một lĩnh vực khoa học liên ngành với rất nhiều lí thuyết được khái quát từ thực tiễn phong phú của sáng tạo và tiếp nhận văn chương. Bài viết này không đi sâu vào các vấn đề lí thuyết trần thuật học mà vận dụng một số khái niệm công cụ đã được giới nghiên cứu xác lập để nhận diện, miêu tả và đánh giá về một chặng đường văn xuôi có nhiều đổi mới quan trọng ở nước ta – chặng đường từ sau 1975. Mục đích của chúng tôi nhằm tổng kết, khái quát hóa thực tiễn sáng tạo văn xuôi, góp phần vào việc khắc họa trung thực bức tranh văn học sử mà người đọc, người học, người dạy Ngữ văn hiện nay đang rất quan tâm. Trong khuôn khổ giới hạn, chúng tôi không thể bao quát mọi vấn đề của nghệ thuật trần thuật mà chỉ tập trung vào một khía cạnh nổi bật, thể hiện rõ sự đổi mới của văn xuôi nước ta 40 năm qua, đó là vấn đề điểm nhìn trần thuật. 2. Nội dung Điểm nhìn là vấn đề then chốt của kết cấu tác phẩm nghệ thuật. Nó hiện diện khắp nơi, chi phối hầu hết các yếu tố trên các cấp độ của văn bản; là “vị trí từ đó người kể nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm. Không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn”. Trên thực tế, “giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống. Sự thay đổi của nghệ thuật bắt đầu từ thay đổi điểm nhìn”1. Mặt khác, thông qua điểm nhìn trần thuật, người đọc có dịp đi sâu tìm hiểu cấu trúc tác phẩm và nhận ra đặc điểm phong cách của nhà văn. Khảo sát điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975, chúng tôi nhận thấy những xu hướng vận động như sau Xu hướng nhạt dần điểm nhìn đại diện cộng đồng, gia tăng điểm nhìn cá thể hoá Mỗi kiểu tư duy văn học là sản phẩm của một tâm thức văn hoá, một tâm thế sáng tạo cụ thể. Trong giai đoạn đất nước có chiến tranh, nhà văn được đặt ở vị trí trung tâm của đời sống và đại diện cho lợi ích cộng đồng. Người kể chuyện trong văn xuôi Việt Nam từ 1945 – 1975 thường đồng nhất cái nhìn của mình với chân lí. Đó là cái nhìn “toàn tri”, được bảo đảm bằng kinh nghiệm của cộng đồng. Sau 1975, đất nước phát triển trong hoà bình, nhu cầu đổi mới toàn diện đời sống xã hội được ý thức và văn học cũng không thể viết như cũ. Từ đầu thập kỉ 80, văn xuôi bắt đầu chuyển mạnh sang cảm hứng thế sự – đời tư với điểm nhìn cá thể hoá. Mặc dù vẫn còn những tác phẩm duy trì điểm nhìn đại diện cộng đồng như Ông cố vấn, Quãng đời xưa in bóng, Đường về Sài Gòn… nhưng chúng hầu như bị lấn át so với những tác phẩm tiếp cận hiện thực bằng cái nhìn cá thể hóa, tức là bằng kinh nghiệm cá nhân. Khảo sát trên các tác phẩm được dư luận chú ý, chúng tôi thấy sự chuyển dịch điểm nhìn khá rõ. Từ 1975 đến 1980, nhìn chung văn xuôi vẫn nghiêng về điểm nhìn đại diện cộng đồng. Có thể kể đến hàng loạt tác phẩm được bạn đọc yêu thích như Tháng Ba ở Tây Nguyên Nguyễn Khải, Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà, Những người đi từ trong rừng ra Nguyễn Minh Châu, Năm 1975 họ đã sống như thế Nguyễn Trí Huân, Đất trắng Nguyễn Trọng Oánh… Từ 1980 đến 1986, dư luận bắt đầu dành sự quan tâm hơn cho những tác phẩm mang cảm hứng đạo đức – thế sự hay đời tư với điểm nhìn của kinh nghiệm cá nhân như Đứng trước biển, Cù lao Tràm Nguyễn Mạnh Tuấn, Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn Ma Văn Kháng, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê Nguyễn Minh Châu, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người Nguyễn Khải, Thời xa vắng Lê Lựu… Từ 1986 trở đi, người đọc hầu như chỉ còn bị cuốn hút bởi những tác phẩm mà ở đó, số phận cá nhân trở thành đối tượng khám phá chủ yếu. Trong những cuốn tiểu thuyết được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam hai năm 1988 – 1989, chỉ có Ông cố vấn của Hữu Mai là còn thấy rõ sự chi phối của điểm nhìn cộng đồng, nhưng nó được dư luận đánh giá cao trước hết ở khối lượng tư liệu lịch sử và nhân vật Vũ Ngọc Nhạ đã được thể hiện rất “đời thường”. Ba cuốn tiểu thuyết được giải của Hội Nhà văn mùa giải 1990 – 1991 cùng hàng loạt tác phẩm được chú ý khác, và những tiểu thuyết được giải các năm 2000, 2005, 2006, 2007, 2009, 2011, 2012 sau này, đều được viết bởi cảm hứng thế sự với điểm nhìn cá thể hoá. Đó là Nỗi buồn chiến tranh, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Cát bụi chân ai, Bến trần gian, Hồi ức binh nhì, Ánh trăng, Cuốn gia phả để lại, Bi kịch nhỏ, Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Hậu thiên đường, Cánh đồng bất tận, Và khi tro bụi, Một mình một ngựa, Đội gạo lên chùa, Trò chơi hủy diệt cảm xúc… Sự dịch chuyển từ điểm nhìn đại diện cộng đồng sang điểm nhìn cá nhân trong truyện ngắn còn rõ rệt hơn nữa. Từ những truyện ngắn gây bất ngờ đầu tiên như Hai người trở lại trung đoàn Thái Bá Lợi, Bức tranh, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Minh Châu… đến các truyện ngắn được giải thưởng của Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ quân đội, Tạp chí Thế giới mới… rồi đến truyện của Nguyễn Huy Thiệp Tướng về hưu, Muối của rừng, truyện của Y Ban Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, truyện của Lại Văn Long Kẻ sát nhân lương thiện, truyện của Nguyễn Bản Ánh trăng, truyện của Phạm Hoa Đùa của tạo hoá, truyện của Phan Thị Vàng Anh Hoa muộn, truyện của Nguyễn Thị Thu Huệ Hậu thiên đường, Thành phố đi vắng… đều đề cập đến nội dung thế sự – đời tư với điểm nhìn cá thể hoá. Khảo sát trên một số tập truyện ngắn tiêu biểu giai đoạn sau 1975, đặc biệt là sau 1986, chúng tôi thu được kết quả như sau – Ánh trăng tập truyện ngắn được giải Báo Văn nghệ 1991 có 12 truyện, không một truyện nào được kể bởi điểm nhìn đại diện cộng đồng. – Bến trần gian tuyển những truyện ngắn được giải cuộc thi của Tạp chí Văn nghệ Quân đội hai năm 1992 – 1994 có 21 truyện, chỉ duy nhất một truyện Vịt trời lông tía bay về là kết hợp điểm nhìn đại diện cộng đồng với việc miêu tả phong tục, tập quán một vùng đầm phá miền Trung. Tập này có nhiều truyện viết về đề tài chiến tranh nhưng chủ yếu gắn với điểm nhìn cá thể hoá – những trải nghiệm của cá nhân nên ấn tượng về “nỗi buồn chiến tranh” rất rõ và rất khác với các truyện thời trước 1975. – Truyện ngắn hay 1993 tập truyện do Nxb Văn học và Báo Văn nghệ ấn hành có 15 truyện, không một truyện nào được kể bởi điểm nhìn đại diện cộng đồng. – 40 truyện rất ngắn tác phẩm chung khảo cuộc thi truyện mini của Tạp chí Thế giới mới- Nxb Hội Nhà văn 1994 không có truyện nào được kể bởi điểm nhìn đại diện cộng đồng. – Truyện ngắn hay Bắc – Trung – Nam tuyển chọn những tác phẩm được giải trong các cuộc thi 3 miền, Nxb Hội Nhà văn, 1995 có 28 truyện, cũng chỉ một truyện Vịt trời lông tía bay về là không hoàn toàn chịu chi phối của cảm hứng thế sự với điểm nhìn cá thể hoá. – Những truyện ngắn hay tập truyện do Nxb Công an Nhân dân ấn hành 1995 có 12 truyện, không một truyện nào được kể từ điểm nhìn đại diện cộng đồng. – Tác phẩm được giải Cây bút vàng 1996 -1998 tập truyện do Nxb Hội Nhà văn và Tạp chí Văn hoá văn nghệ Công an ấn hành gồm 19 tác phẩm, có một tác phẩm được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng là Cảm nhận hương hồi bút kí của Vương Trọng. – Truyện ngắn hay 2000 tập truyện do Nxb Hội Nhà văn ấn hành có 15 truyện, duy nhất truyện Trần Quang Diệu của Trần Thị Huyền Trang được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng. – Truyện ngắn hay 2004 tập truyện do Nxb Hội Nhà văn ấn hành có 28 truyện, không có truyện nào được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng. – Truyện ngắn hay 2005 tập truyện do Nxb Thanh Hoá ấn hành có 27 truyện, không truyện nào được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng. – Văn mới 2007-2008 tuyển chọn văn xuôi của những tác giả mới và tác giả đang được mến mộ, Nxb Hội Nhà văn và Công ty Văn hoá Đông A ấn hành có 27 tác phẩm, không tác phẩm nào được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng. – Truyện ngắn hay 2009 tập truyện do Nxb Văn học ấn hành có 27 truyện, không truyện nào được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng. – Văn mới 2012-2013 tuyển chọn văn xuôi của những tác giả mới và tác giả đang được mến mộ, Nxb Hội Nhà văn và Công ty Văn hoá Đông A ấn hành có 27 tác phẩm, không tác phẩm nào được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng. Như vậy, thực tế khảo sát cho thấy xu hướng sử dụng điểm nhìn đại diện cộng đồng chiếm số lượng rất ít mà chủ yếu là điểm nhìn cá thể hoá. Điều này chứng tỏ nhà văn đương đại ít có nhu cầu kể lại những câu chuyện “mọi người đã biết” mà chủ yếu kể câu chuyện “như tôi biết”. Trải nghiệm riêng, kinh nghiệm riêng trở thành nhu cầu diễn đạt chính yếu. Chẳng hạn, vẫn câu chuyện về sự tích Sơn Tinh Thuỷ Tinh nhưng người đọc lại đầy bất ngờ thích thú trước cách cắt nghĩa, lí giải từ điểm nhìn cá thể hoá của nhà văn Hòa Vang. Tác giả mở đầu bằng một kinh nghiệm của cá nhân “Như mọi người đều biết…Nhưng tôi biết còn có một sự thật lẽ cố nhiên khác nữa”2. Và niềm tin quen thuộc của độc giả bắt đầu bị thử thách, để rồi cuối cùng; dù họ chấp nhận hay không cái sự thật giả định mà người viết nêu ra, thì họ cũng buộc phải biết đến một niềm tin khác. Người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thường đưa ra phản đề “Tôi sẽ kể chuyện này cho anh… Tôi không chắc…”3. Đọc Nỗi buồn chiến tranh, người ta nhận thấy, đó dường như là cuộc chiến tranh của riêng Bảo Ninh chứ không phải là cuộc chiến tranh đã từng diễn ra trong lịch sử. Truyện được kể bằng cái nhìn cá biệt của nhân vật Kiên – một cựu chiến binh bị chấn thương tâm lí nặng. Toàn bộ hiện thực ấy là hiện thực ảo. Những kí ức đứt quãng lần lượt hiện về. Nhà văn như muốn nói với bạn đọc đây không phải là câu chuyện khách quan đã xảy ra như mọi người đều biết mà là những gì ám ảnh nhất còn đọng lại trong kí ức riêng của một con người. Và chiến tranh được kể bằng kinh nghiệm cá biệt rất khác với truyền thống. Điều đó khiến người đọc thấm thía nỗi đau đắng tận cùng của thân phận con người trong chiến tranh, để rồi càng trân trọng hơn giá trị của độc lập tự do hôm nay. Rõ ràng, cá thể hoá điểm nhìn trần thuật khiến mỗi cá nhân là một thế giới riêng tư, độc đáo và quan niệm của mỗi cá nhân nhiều khi không hoàn toàn trùng hợp với quan niệm của cộng đồng. Khi điểm nhìn được cá thể hoá cao độ, cũng đồng nghĩa với việc nhà văn chú ý nhiều hơn đến cái ngẫu nhiên, cái không tất yếu. Nhà văn không kể những câu chuyện mọi người đã biết, không đưa ra những chân lí tuyệt đối mà muốn đối thoại nhiều hơn với bạn đọc để cùng suy ngẫm. Điều đó khiến điểm nhìn trần thuật vô cùng đa dạng, phong phú. Xu hướng đa dạng hoá điểm nhìn trần thuật Đây là xu hướng trần thuật khá phổ biến của văn xuôi Việt Nam sau 1975. Nếu trong văn xuôi giai đoạn trước 1975, điểm nhìn trần thuật của một tác phẩm thường rất dễ xác định, vì nó nhất quán, nó đồng nhất với điểm nhìn của tác giả. Từ điểm nhìn thấu suốt ấy, tác giả sẽ cất lên tiếng nói “hướng đạo” cho người đọc. Nghĩa là chân lí cuộc đời luôn được chỉ ra một cách rõ ràng, mạch lạc. Người đọc tiếp nhận những những giá trị đã được thẩm định. Nhưng cách nói hộ, nghĩ hộ của nhà văn một thời giờ đây dường như không còn thích hợp nữa. Trình độ của bạn đọc ngày càng không ngừng được nâng cao. Cái tôi cá nhân của người đọc đòi hỏi được xác lập như một nhân vị. Hơn nữa, cuộc sống đương đại hiện ra phức tạp muôn hình, muôn vẻ và người đọc có nhu cầu đánh giá, xem xét mọi điều bằng những trải nghiệm của riêng mình. Mặt khác, văn xuôi hôm nay không chỉ phản ánh hiện thực mà còn suy ngẫm về hiện thực. Hiện thực được mở ra với biên độ vô cùng rộng lớn có hiện thực quen thuộc khả kiểm, khả tín, nhưng cũng có vùng hiện thực xa lạ, mơ hồ, bí ẩn, bất khả tín… Đối với một số tác phẩm thì hiện thực không còn là mục đích tối thượng mà chỉ là phương tiện để thể hiện tư tưởng của nhà văn. Đối với nhiều nhà văn thì không chỉ “kể nội dung” mà còn là “viết nội dung”; điều quan trọng không phải là kể chuyện gì mà chính là cách thức kể câu chuyện ấy như thế nào. Cùng viết về một đề tài, cùng kể về một câu chuyện nhưng nhà văn này kể thì hấp dẫn, lôi cuốn độc giả; còn nhà văn kia thì không. Điều này trước hết do sự đa dạng hoá điểm nhìn trần thuật mang lại. Việc đa dạng hoá điểm nhìn trần thuật khiến cho “khối vuông rubic” của hiện thực, của lòng người được phơi lộ; thể hiện nhu cầu khám phá bản chất cuộc sống một cách sâu sắc, thận trọng; nhu cầu bình đẳng giữa nhà văn với độc giả… Đa dạng hoá điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi sau 1975 được biểu hiện ở việc gia tăng số lượng người kể chuyện, và nhà văn trao điểm nhìn trần thuật cho mọi nhân vật, không phân biệt nhân vật chính – phụ, nhân vật tin cậy – không tin cậy… Nổi bật là các dạng thức sau đây Luân phiên, lồng ghép điểm nhìn trần thuật Đây là hiện tượng tác phẩm không mặc định ở một điểm nhìn mà luôn đan xen, dịch chuyển từ điểm nhìn này sang điểm nhìn khác. Nhiều nhân vật trong tác phẩm luân phiên nhau đóng vai trò người kể chuyện, và từng nhân vật ấy bày tỏ cách nhìn riêng của mình về hiện thực. Cũng có khi, cùng lúc tồn tại nhiều điểm nhìn, các điểm nhìn chồng lên nhau, đan chéo, móc nối với nhau để mở ra cho người đọc những khám phá mới về đối tượng. Điều này tạo nên tính phức điệu, đa âm cho câu chuyện và tác phẩm văn xuôi trở thành một cấu trúc đa tầng, cùng lúc vang lên nhiều tiếng nói khác nhau. Chẳng hạn, trước số phận cơ cực, bất hạnh của người đàn bà trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu để cho nhiều điểm nhìn cùng soi rọi vào cái nhìn trẻ thơ, non nớt của đứa con trai kết án ông bố tàn bạo, và thề sẽ giết ông ta để bảo vệ mẹ. Nhưng con chị thì hiểu biết hơn, vừa khóc lóc vừa can ngăn em. Nhà nhiếp ảnh thì sẵn sàng “giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”. Viên thẩm phán thì khăng khăng ly hôn là giải pháp đúng đắn nhất. Nhưng người đàn bà, kẻ hứng chịu những trận đòn roi tàn nhẫn và phi lý của chồng lại nhìn nhận khác hẳn bà hiểu chồng, thương con, hiểu tình cảnh nan giải của gia đình mình; biết mình phải nhẫn nhục, cam chịu để bầy con đông đúc khỏi chết đói. Bi kịch của mẹ con bà không dễ dàng giải quyết được nếu chỉ trông cậy vào thiện chí cá nhân. Người đàn bà ấy có cái trí khôn của đời sống. Bà ta không ảo tưởng “Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có hiểu được người làm ăn lam lũ, khó nhọc…”4. Rõ ràng, nhân vật người đàn bà hiện diện trước ống kính “vạn hoa” của tác phẩm. Và bạn đọc không dễ dàng phán xét đơn giản đúng – sai từ một phía, mà phải thận trọng cân nhắc từ nhiều phía để cắt nghĩa sao cho thấu tình đạt lí. Người đàn bà ấy vừa đáng giận lại vừa đáng thương. Phía sau gương mặt xấu xí của bà ta là vẻ đẹp ẩn khuất trong tâm hồn, vẻ đẹp của mẫu tính dám hy sinh và chịu trách nhiệm trước đàn con của mình. Trong tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ 5, điểm nhìn trần thuật liên tục di chuyển từ nhân vật này đến nhân vật khác. Có lúc tác phẩm được kể dưới điểm nhìn của nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ các chương 17, 19, 30, 32…; có khi được kể dưới điểm nhìn của thầy giáo Hiến các chương 1,7, 15; có lúc lại kể dưới điểm nhìn của An – người yêu Nguyễn Huệ các chương 75, 92, 97; có lúc điểm nhìn lại được giao cho nhân vật Lãng – em trai An các chương 87, 99… Rất nhiều biến cố được lí giải khác nhau từ điểm nhìn của mỗi nhân vật. Và sự kết hợp linh hoạt các điểm nhìn trần thuật khiến mỗi sự kiện của đời sống được cắt nghĩa thấu đáo, khách quan và đa diện hơn. Tác phẩm văn học khi ấy mang dáng dấp “một bản giao hưởng” nhiều bè, nhiều điệu; đạt tới hiệu quả thẩm mĩ phong phú, bất ngờ. Không chỉ luân phiên, nhiều tác phẩm văn xuôi Việt Nam sau 1975, đặc biệt là sau 1986 còn lồng ghép điểm nhìn trần thuật để làm mới kĩ thuật tự sự. Trong tác phẩm có sự tương tác giữa điểm nhìn của người kể chuyện với một hoặc nhiều nhân vật, tạo ra sự hoà phối, đan xen, phức hợp của nhiều kinh nghiệm, nhiều luồng tư tưởng, có khi cùng chiều, có khi đối nghịch. Tiểu thuyết Hồ Quý Ly6 của Nguyễn Xuân Khánh là một ví dụ. Ở đây, người trần thuật xưng “tôi” mà nhân vật cũng xưng “tôi” giành quyền tự kể Chương II Hồ Nguyên Trừng; chương V Trần Khát Chân; chương VI Cô gái vườn mai; chương XII Đường lên Yên Tử; chương XIII Hội thề Đốn Sơn. Ta đều biết, những nhân vật lịch sử như Hồ Nguyên Trừng, Trần Khát Chân… là những con người của quá khứ, cách xa ngày nay đã sáu thế kỉ. Họ đã “an nghỉ dưới mồ” từ lâu, vậy mà trong tác phẩm, nhà văn cho họ “sống lại” để kể chuyện mình và chuyện của thời đại mình. Câu chuyện lịch sử được “hiện tại hoá” như đang vận động, đang diễn ra, đang song hành cùng con người hôm nay. Nguyễn Xuân Khánh đã tạo ra sự hoà phối của hai loại điểm nhìn điểm nhìn trần thuật khách quan và điểm nhìn chủ quan của từng nhân vật lịch sử. Tác phẩm, do đó, có cấu trúc mở, giàu tính đối thoại; nói về quá khứ nhưng chất chứa những suy ngẫm sâu sắc về hiện tại. Và những sự kiện của lịch sử luôn hiện diện trong tư thế đang vận động ở thì “hiện tại chưa hoàn thành”. Trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, vai trò bình đẳng trong điểm nhìn của mỗi nhân vật khiến cho tác phẩm luôn là một cấu trúc đa tầng, đa nghĩa. Đọc văn Nguyễn Huy Thiệp đầy bất ngờ, “tiền văn” không đoán được “hậu văn”. Chi tiết nào cũng đa nghĩa, đầy sức gợi và có khả năng kích thích đối thoại rất mạnh. Tiểu thuyết Chinatown 7 cũng sử dụng kĩ thuật lồng ghép điểm nhìn cực kì phức tạp “tôi” và “hắn” là hai mà thực ra là một; “tôi” và “chị ta” cũng vừa đồng nhập vừa phân li như thế. Rõ ràng, luân phiên, lồng ghép điểm nhìn khiến chủ đề tác phẩm và tư tưởng tác giả không lộ diện, khó nắm bắt; đòi hỏi người thưởng thức nhiều suy nghĩ, nhưng cũng gợi nhiều liên tưởng khác nhau. Điều này khiến tác phẩm thực sự “là một quá trình”, khơi gợi ở bạn đọc sự “đồng sáng tạo”; đến với mỗi bạn đọc, tác phẩm không ngừng “sinh sôi” về nghĩa. Và tất yếu, xung quanh một tác phẩm dễ gây ra tranh luận trái chiều. Giao điểm nhìn trần thuật cho những nhân vật “không đáng tin cậy” Đây là hiện tượng trong tác phẩm, nhà văn giao nhiệm vụ kể chuyện cho những nhân vật dị biệt, đặc biệt – kiểu nhân vật “không đáng tin cậy”. Đó có thể là một thương binh bị chấn thương thần kinh như Kiên Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh; có thể là một hồn ma đã uống nước ở Bến Lú, Sông Mê nên nhớ nhớ, quên quên như các nhân vật Hương và Hoa Người sông Mê – Châu Diên; có thể là nhân vật bào thai đang nằm trong bụng mẹ Thiên thần sám hối – Tạ Duy Anh; có khi là một thanh niên bị điện giật chết hụt rồi bỗng có khả năng đi ngược về quá khứ Trong sương hồng hiện ra – Hồ Anh Thái… Nỗi buồn chiến tranh8 sử dụng người trần thuật không phải là cái tôi bình thường mà là cái tôi tâm hồn đã bị chấn thương tâm lí. Anh ta cũng không phải kể về chiến tranh như đang diễn ra mà là câu chuyện được nhớ lại; nhớ lại những gì ấn tượng nhất. Trong tư cách một “nhà văn phường”, Kiên luôn nhắc đi nhắc lại lời thú nhận rằng mình viết trong trạng thái “rối bời”, “bấn loạn”. Câu chuyện về chiến tranh được hiện lên trong dòng kí ức “chập chờn bất định” của Kiên… Điểm nhìn chủ quan hóa triệt để như thế, đòi hỏi ở người đọc sự ngờ vực, sự phản biện. Giao điểm nhìn trần thuật cho một nhân vật bị chấn thương như vậy, nhà văn Bảo Ninh muốn độc giả cùng trải nghiệm với một người lính “vô danh” nỗi đau đắng tận cùng của thân phận con người trong chiến tranh, để rồi tri nhận đầy đủ hơn giá trị của cuộc sống hòa bình. Mở đầu tiểu thuyết Người sông Mê, tác giả Châu Diên công khai rằng ông không định “kể lại một câu chuyện” giống với hiện thực, không nhằm giảng giải, cắt nghĩa câu chuyện bằng lôgic đời sống mà đang trình bày một “trò chơi” của văn chương “Trời và Đất đã cho sinh ra một ngày Đầu tiên, trong ngày đó có câu chuyện liên quan đến cô gái tên là Hoa… Có điều khó hiểu và cũng gây khó dễ cho người kể chuyện, ấy là khi thì cô này nghĩ mình là Hoa, có khi chính cô lại cho rằng mình là Hương”; “Cô nhớ và không nhớ. Thực tình cô cũng có nhớ, nhưng rồi nhớ nhớ quên quên, thành thử là quên và nhớ lẫn lộn. Cô làm cho nhiều người ra trình diện trong cuốn sách này cũng có tật giống cô, ấy là cứ nhớ nhớ quên quên. Và có khi cô còn làm cho cả những ai tiếp xúc với các nhân vật trong sách này cũng lây cái tật quên quên nhớ nhớ ấy…”9. Nhân vật kể chuyện ở đây thật “không đáng tin cậy”. Cô ta chỉ là một hồn ma. Ngay từ đầu tác phẩm, tính chất hư cấu, bịa đặt cố ý lộ liễu nhằm gây ra sự ngờ vực với người đọc. Thậm chí tính “trò chơi” được tiết lộ ngay từ tên truyện Người sông Mê. Tác phẩm không chia chương mà chia khúc, vừa theo trình tự kiếp luân hồi như quan niệm nhà Phật, vừa ngẫu hứng, vu vơ Kiếp ảo, Kiếp gốc, Kiếp thực… Hiện thực giả định này buộc người đọc phải có cách ứng xử khác văn chương có nhất thiết chỉ có mục đích phản ánh hiện thực không? Văn chương còn có thể phản ánh những suy tư, mơ mộng về những vùng hiện thực bất khả tri – hiện thực của tâm linh, ảo giác. Nhân vật trần thuật ở đây không được điển hình hoá mà rất dị biệt, cá biệt, nhưng lại tạo ra một hiệu ứng thẩm mĩ bất ngờ với người đọc. Đọc xong câu chuyện, người ta bỗng thấy “thương người và lại thương thân”. Tiểu thuyết Thiên thần sám hối xác nhận “trò chơi” bằng chính lời Tựa “Câu chuyện khó tin này là của một đứa trẻ còn ở trong bụng mẹ. Nếu đọc xong mà quý vị vẫn không tin thì cũng không sao” 10. Và người trần thuật xưng “tôi” chính là cái bào thai ấy. Chỉ còn 72 giờ nữa là thai nhi phải chào đời. Nó đang trăn trở có nên ra đời hay không? Ban đầu thai nhi “khao khát chờ đến cái ngày vĩ đại ấy”, nhưng rồi nó quyết định cứ ở trong bụng mẹ. Bởi nó đã nghe được câu chuyện một bà mẹ sinh con rồi bỏ con tại bệnh viện; chuyện một cô gái liên tục bịsảy thai vì quả báo do người chồng độc ác đã từng giết người; chuyện một gã thanh niên coi đứa con là tội nợ… Từ đó, tác phẩm gợi ám ảnh nơi độc giả về một hiện thực trớ trêu rất đáng bận tâm của đời sống đương đại những nhầm lẫn đáng buồn của con người, những dục vọng tăm tối đang hủy hoại cái đẹp và ăn mòn các giá trịsống… 3. Kết luận Có thể thấy, xu hướng vận động của điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 là không ngừng gia tăng điểm nhìn cá thể, và đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật. Trước áp lực cạnh tranh từ các phương tiện giải trí – truyền thông, lối sống và nhịp độ sống của thời đại kỹ trị… buộc người viết văn phải nỗ lực kiếm tìm hình thức mới cho văn xuôi Việt Nam đương đại. Dường như nhà văn hôm nay đang cố gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi Có thể viết văn như thế nào? Khi tái hiện hiện thực đời sống, nhiều nhà văn có xu hướng vượt khỏi mô hình trần thuật quen thuộc, xác lập mối quan hệ mới giữa văn chương với hiện thực, giữa nhà văn với bạn đọc để tạo ra những kinh nghiệm đọc mới. Đa dạng hóa điểm nhìn, phá vỡ cái nhìn toàn tri; văn xuôi đương đại tìm đến những điểm nhìn mang rõ dấu ấn cá nhân, cá thể. Văn học của điểm nhìn nhìn trần thuật như vậy đúng là không dễ đọc với mọi độc giả, đặc biệt là những độc giả yêu thích sự mực thước, hiền lành. _________1 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên 2010, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2 Hòa Vang 1996, Sự tích những ngày đẹp trời, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 3 Nguyễn Huy Thiệp 2001, Mưa Nhã Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, 4 Nguyễn Minh Châu 1999, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội, 5 Nguyễn Mộng Giác 2003, Sông Côn mùa lũ 2 tập, Nxb Văn học & Trung tâm nghiên cứu Quốc học. 6 Nguyễn Xuân Khánh 2000, Hồ Quý Ly, Nxb Phụ nữ. 7 Thuận 2005, Chinatown, Nxb Đà Nẵng. 8 Bảo Ninh 2005, Nỗi buồn chiến tranh, Nxb Hội Nhà văn. 9 Châu Diên 2005, Người sông Mê, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 10 Tạ Duy Anh 2004, Thiên thần sám hối, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thị Bình 2012, Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội. 2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi 1999, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 3. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn 2006, Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 4. Trần Đình Sử Chủ biên 2004, Tự sự học – một số vấn đề lý luận và lịch sử, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội. 5. Trần Đình Sử Chủ biên 2008, Tự sự học – một số vấn đề lý luận và lịch sử, Phần 2, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội. 6. Các tuyển tập truyện ngắn, tiểu thuyết, kí Việt Nam sau 1975. Nguồn Tạp chí Khoa học Trường Đại học Thủ đô Hà Nội,số 3/2016, trang 19-29 Thánh Địa Việt Nam Học Nội dung của khóa luận được triển khai thành ba chương chương 1 hành trình sáng tạo của Mạc Ngôn; chương 2 phương thức trần thuật; chương 3 giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật. TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI ĐINH THỊ THÚY NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT THẬP TAM BỘ CỦA MẠC NGÔN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành Sư phạm Ngữ Văn Hệ đào tạo chính quy Khóa học 2013 – 2015 Đồng Hới, 2015 TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI ĐINH THỊ THÚY NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT THẬP TAM BỘ CỦA MẠC NGÔN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành Sư phạm Ngữ Văn Hệ đào tạo chính quy Khóa học 2013 – 2015 Người hướng dẫn Nguyễn Thị Quế Thanh Đồng Hới, 2015 LỜI CẢM ƠN Xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Nguyễn Thị Quế Thanh, người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này. Xin bày tỏ lòng biết ơn quý thầy cô giáo đã giảng dạy và đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình học tập. Xin chân thành cảm ơn khoa Khoa học Xã hội, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu. Cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận. Tác giả Đinh Thị Thúy LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác. Tác giả Đinh Thị Thúy MỤC LỤC MỞ ĐẦU. 1 do chọn đề tài 1 sử vấn đề 2 tượng và phạm vi nghiên cứu . 6 . Đối tượng nghiên cứu. .

phương thức trần thuật